Lớp 11Văn mẫu lớp 11

Vẻ đẹp con người của Hàn Mặc Tử qua bài Đây thôn Vĩ Dạ (3 Mẫu + Dàn ý)

Cảm nhận về con người của Hàn Mặc Tử qua bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ để thấy được vong hồn Hàn Mặc Tử trong tình yêu thiên nhiên tươi đẹp, ý thức tư nhân. Tài liệu bao gồm dàn ý chi tiết kèm theo 3 bài văn mẫu hay nhất.

Cảm nhận về tình cảm của thi sĩ với mảnh đất và con người thôn Vĩ đó là tình yêu thiên nhiên. không những thế là sự đau buồn, dự cảm chia ly, sự vô vọng cũng như sự hoài nghi. Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ hay nhất, thể hiện rõ một con người Hàn Mặc Tử đầy sự xáo trộn, mang trong mình nhiều khát vọng.

Bạn Đang Xem: Vẻ đẹp con người của Hàn Mặc Tử qua bài Đây thôn Vĩ Dạ (3 Mẫu + Dàn ý)

Dàn ý cảm nhận về con người của Hàn Mặc Tử

I. Mở bài:

– Hàn Mặc Tử là thi sĩ có dấu ấn cái tôi khác biệt trong phong trào Thơ mới. tiêu biểu là trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, con người ông được bộc lộ một cách rõ nét nhất.

II. Thân bài:

– Hàn Mặc Tử là con người yêu thiên nhiên, cuộc sống

  • “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” vừa là nghi vấn, vừa là lời chào mời. Lời thơ nhẹ nhõm gợi nhắc tới bóng vía xưa cũ, ở đó có người con gái Huế ông thương.
  • Bao nhiêu kỉ niệm ùa về với cảnh sắc thiên nhiên trữ tình.
  • “Nắng mới lên” là nắng mới, không quá gay gắt, ánh nắng nhẹ nhõm khiến mọi người đều cảm thấy dễ chịu.
  • Ấn tượng nhất là hình ảnh “lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Chữ “điền” ở đây có thể chỉ hình ảnh cánh cửa sổ ngôi nhà hay cũng chính là hình ảnh thấp thoáng của người con gái có gương mặt phúc hậu xứ Huế.

→ Dù không được trở lại thăm thôn Vĩ Dạ nhưng mọi hình ảnh nơi đây vẫn được thi sĩ Hàn Mặc Tử lưu giữ với niềm mến thương khôn xiết. Thôn Vĩ với ông là một niềm ước vọng lớn nhưng cũng đầy nên thơ và trữ tình.

– Hàn Mặc Tử là con người đơn chiếc

  • Khổ 2 của bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là tâm trạng đầy đau buồn, nhớ nhung của thi sĩ Hàn Mặc Tử: “Gió theo lối gió, mây đường mây … Có chở trăng về kịp tối nay”
  • Sử dụng giải pháp nhân hóa, dòng nước nhường nhịn như cũng buồn thay cho tâm trạng của tác giả. Nhịp thơ 4/3 ngăn cách; không gian trong bài thơ cũng trở nên sâu lắng hơn.
  • “Gió theo lối gió, mây đường mây”, mọi thứ chia đôi ngả, sắp mà xa xôi cách trở như chính câu chuyện của tác giả vậy.
  • “Thuyền ai” gợi cảm giác vừa quen, vừa lạ.

→ Hàn Mặc Tử như đã nhuộm màu tâm trạng cho khổ thơ, ở đó ông cũng khát khao được yêu, được chiếm lấy tình yêu nhưng không còn đủ thời gian nữa.

– Hàn Mặc Tử – con người đầy trằn trọc, day dứt

  • Khổ 3 cũng là khổ cuối của bài thơ là tâm tình của tác giả với người con gái Huế: “Mơ khách đường xa, khách đường xa … Ai biết tình ai có mặn mà”.
  • Con người, cảnh vật giờ đây đang dần mờ nhạt và biến mất. “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”, mọi vật như đang được đan xen vào nhau, thật khó để phân biệt rẽ ròi.
  • “Ai biết tình ai có mặn mà”, tác giả hoài niệm rồi lại bâng khuâng, hụt hẫng.

→ Hàn Mặc Tử trở về hiện tại, ông cảm nhận rõ hơn về sự xa xôi, hư ảo của hạnh phúc rồi lại tự mình thở dài, nhớ mong.

III. Kết bài:

– Hàn Mặc Tử là con người đầy ước vọng và đau buồn. Thơ ông khiến người đọc cảm thấy day dứt, sợ hãi một nỗi buồn không thể viết thành tên.

Xem thêm: Những mẫu phân tích tác phẩm thương của trần tế xương chọn lọc 

Cảm nhận về con người của Hàn Mặc Tử – Mẫu 1

Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chói lọi diệu kỳ trong vòm trời rực rỡ lóng lánh nhiều tinh tú lạ. Thơ Hàn vừa thể hiện tình yêu khôn xiết với cuộc sống trần tục, vừa hướng về Chúa Trời với những niềm thanh khí thần tiên. Đã có rất nhiều hướng tiếp nhận tuyệt bút Đây thôn Vĩ Dụ. Song, ai cũng thấy rằng bài thơ nói về tình yêu – một tình yêu đơn phương, thơ mộng, trong sáng, hồn huyền ảo. Tuy nhiên, khó phủ nhận được là Hàn Mặc Tử đã nói khá hay về xứ Huế mộng và thơ. Đây thôn Vĩ Dạ chi vẻn vẹn có 3 khổ, tổng cộng 12 câu thất ngôn.

Bài thơ có nhẽ là lời trách thầm, và cũng là lời nhắn nhủ nhẹ nhõm gửi gắm của nhân vật trữ tình, trong một tâm trạng vời vợi nhớ mong:

Sao anh không về chơi thôn Vi?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?

nếu như như mỗi tình yêu đều gắn với một không gian và thời gian cụ thể, thì mỗi hình ảnh của nhân vật trữ tình trong bài thơ này gắn với vườn tược và con người Vĩ Dạ, đều những kỉ niệm thật khó quên. Có dịp, xin mời bạn hãy về thăm thôn Vĩ vào một buổi sớm mai Vĩ Dạ nằm ngay bên bờ sông Hương êm đềm thơ mộng, chỉ cách trung tâm cố đô Huế khoảng không đầy một giờ tản bộ. Từ xưa, thôn Vĩ Dạ đã nổi tiếng bởi cây cối xanh tươi, và những biệt thự nhỏ nhắn duyên dáng, thấp thoáng, tưới màu xanh của cây lá. Thôn Vĩ Dạ cũng nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự, chùa Thiên Mụ… của xứ này. Bởi vậy, ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Nguyễn Bính, Bích Khuê, Nguyễn Tuân… đều có những cảm giác mà cảm hứng được phát sinh từ thôn Vĩ Dạ nên thơ.

Sớm mai, nắng mới long lanh trên những tàu cau còn ướt sương đêm. Khách từ xa tới sẽ thấy hàng cau trước nhất, vì nó thường cao hơn hẳn những cây cối xum xuê ở dưới. Đất đai Vĩ Dạ phì nhiêu, được con người chuyên cần chăm bón; quả thực, cây cối ở đây xanh tốt mơn mởn và sạch sẽ như được lau chùi, mài giũa thành như những cành vàng lá ngọc…

Câu thơ: Lá trúc che ngang mặt chữ điền?

Xem Thêm : 7 mẫu Phân tích 2 câu cuối bài Chiều tối hay nhất

Thật là một sáng tạo độc đáo. “Mặt chữ điền” gợi cho người đọc nhớ tới hình ảnh người dân có khuôn mặt vuông vức, thân hình cường tráng, đầy nam tính. Nhưng, khi hình tượng này đặt trong chính thể đoạn thơ và câu thơ: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” thì ấn tượng vượt trội lại là sự hài hòa, gắn bó mật thiết giữa con người với vườn tược quê hương. tương tự, câu thơ còn khắc họa thành công một nét đáng nhớ; đáng yêu của thôn Vĩ: Cảnh đẹp đẽ, tươi tốt; con người phúc hậu giàu sức sống.

Tiếp nối mạch xúc cảm của khổ đầu, nhường nhịn như khổ thứ hai, thi sĩ có phần (lành để đặc tả cảnh sóng nước, mây trời xứ Huế và cũng bộc lộ niềm nguyện vọng bâng khuâng:

Gió theo lối phong vân đường mây,
Dòng nước buồn thiu hoa bắp bay;
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

tiết điệu dịu dàng, thư thả của xứ Huế được khắc họa thành công: Gió và mây nhè nhẹ trôi đi; sông Hương nước chảy lặng lờ. Hoa ngô (hoa bắp) chi khẽ đung đưa theo chiều gió. Khác với khố một, tới khổ thứ hai này, không gian được trình bày như trong mộng ảo, tràn ngập ánh trăng. thi sĩ không những chỉ ta, không những chỉ nhìn bằng mắt mà điều quan trọng hơn là còn “nhìn” bằng toàn cầu tâm linh của mình: do vậy, không có biên giới giữa thực và mộng và nhường nhịn như càng về cuối toàn cầu tâm linh, toàn cầu mộng ảo càng lấn lướt toàn cầu hiện thực. Vì là mộng ảo, nên có nỗi băn khoăn rất mộng mơ: “Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay?”. Thuyên trăng thì có rất nhiều thi nhân nhắc tới. nhưng “sông Trăng” thì có nhẽ Hàn Mặc Tử là người sáng tạo trước tiên. nhường nhịn như trong những câu thơ trên, có sự mong chờ, niềm hy vọng, lẫn nỗi buồn man mác của thi sĩ, ở đây rõ ràng, không có sự đặc sắc của một văn pháp phác họa đúng vong hồn của một xứ sở, mà điều quan trọng nữa là: Những nét phác họa ấy gợi lên ở người đọc một tình yêu thật dịu dàng, kín đáo, mà sâu xa rộng mở tới khôn xiết. Ấn tượng của người đọc về những điều nói trên sẽ được thi sĩ tô đậm qua khổ kết:

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có mặn mà?

Đúng là xứ Huế vốn mưa nhiều, lắm sương khói. do vậy, phải chăng khổ thơ trên có nét tả thực, cũng giống như “hàng cau”, “lá trúc” “hoa bắp”… ở những khổ thơ trước? Sương khói trắng, và áo em cũng trắng: Bởi vậy, nếu như thi sĩ chỉ nhìn thấy bóng người thôi (nhân ảnh), thì cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, như đã nêu, Hàn Mặc Tử vốn là thi sĩ lãng mạn thực thụ, cái chính là thi sĩ đã nói bằng tâm tưởng, gieo vào lòng người đọc một thoáng bâng khuâng: Người thiếu nữ Huế tươi đẹp quá, kín đáo và huyền ảo quá; nào ai có biết tình yêu của họ bền chặt, hay cũng chỉ mờ ảo như khói sương xứ Huế? Ở đây, nhường nhịn như tác giả cảm thấy mình chơi vơi hụt hẫng, trước một mối tình đơn phương lung linh, huyền ảo. nếu như nhìn thấy rằng. Hàn Mặc Tử vốn là người rất mực tài hoa, luôn khát khao yêu thương; nhưng căn bệnh phong hiểm nghèo đã làm ông không có được một tình yêu trọn vẹn. thi sĩ đã từng phải sống có độc, lúc thì trong một con thuyền nhỏ lênh đênh chẳng có bờ bến, lúc thì khắc khoải bên dãy núi ven thành phố, và cuối cùng phải nằm vô vọng ở nhà thương Tuy Hòa chờ cái chết… Ta càng thông cảm cho một thoáng hờn dỗi, trách móc tưởng như vô cớ của cây bút đa tài, mà xấu số này. Phải yêu người Vĩ Dạ, nói rộng ra là phải yêu người xứ Huế; hiểu xứ Huế, gắn bó với xứ Huế sâu sắc tới độ nào, thì thi sĩ mới nói về tình yêu, về xứ Huế đứng và hay như thế!

Xem thêm:  Tuyển tập 16+ mẫu Phân tích Đây thôn Vĩ Dạ ngắn gọn nhất

Cảm nhận về con người của Hàn Mặc Tử – Mẫu 2

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” như chính tiếng lòng của Hàn Mặc Tử trong những năm tháng cuối đời. Ở đó ta tìm thấy sự đơn chiếc, tìm thấy sự khát khao yêu và được yêu, khát khao nắm giữ hạnh phúc và có cả sự tiếc nuối cho chính cuộc thế của tác giả.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

Bức tranh thôn Vĩ được vẽ lên trong trí tưởng tượng của Hàn Mặc Tử. Thời gian sáng tác bài thơ này cũng chính là thời khắc ông đang chữa bệnh. Tất cả mọi thứ thuộc về thôn Vĩ giờ chỉ còn là miền ký ức.

Câu thơ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” có thể được hiểu là nghi vấn; nhưng cũng có thể là lời chào mời. Thôn Vĩ đẹp vậy sao anh không về chơi, bao lâu rồi anh chưa ghé thăm thôn Vĩ? Lời trách móc, mời mọc thật dịu dàng, đằm thắm nhưng lại gợi nhớ biết bao nhiêu kỉ niệm.

Hàn Mặc Tử yêu thiên nhiên thôn Vĩ Dạ với “nắng hàng cau”, với “vườn xanh mướt”. Hình ảnh “nắng mới lên” tạo cảm giác vô cùng rét mướt, dịu nhẹ. Đó là ánh nắng buổi sớm vô cùng dễ chịu. Ánh sáng ấy còn giúp khu vườn “mướt quá xanh như ngọc”. Không gian càng trở nên rộng lớn, tươi mát hơn và tràn đầy sức sống.

Thiên nhiên và con người thôn Vĩ Dạ luôn làm Hàn Mặc Tử thương nhớ khôn nguôi. “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”; chữ “điền” ấy có rất nhiều nghĩa khác nhau, đó có thể là hình ảnh chiếc cửa sổ được che ngang hay chính là khuôn mặt người con gái hiền hậu xứ Huế, e lệ, ngượng ngùng sau chiếc lá trúc.

Những kí ức, vẻ đẹp của con người, thiên nhiên xứ Huế được Hàn Mặc Tử gợi nhớ, ôm ấp trong lòng. Ông khát khao được về nơi ấy với niềm mến thương khôn xiết.

thi sĩ Hàn Mặc Tử như ôm trọn nỗi buồn, ông có cái tôi buồn thương man mác.

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”

Nhịp thơ 4/3, phối hợp với hình ảnh gió, mây, hoa, trăng, thuyền tạo nên hình ảnh chia lìa. Hàn Mặc Tử đã chuyển đổi không gian thôn Vĩ trở nên cao rộng hơn, thời gian đã được chuyển từ sáng sang tối. Tâm trạng của thi sĩ cũng được chuyển đổi, từ vui tươi, nhớ nhung sáng buồn thiu “dòng nước buồn thiu. Cảnh vật đã được mang tâm trạng của con người, giống như câu thơ “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du).

“Gió theo lối gió, mây đường mây” có cấu trúc hài hòa, tương hợp; tạo sự xa vời, chia cách. Cảnh vật đều trở nên mộng mơ nhưng đầy cách trở “hoa bắp lay”. “Thuyền ai” đậu bến sông gợi nhớ những câu hò xứ Huế hay nhưng buồn. Chiếc thuyền còn gắn liền với vầng trăng tạo sự hùng vĩ trong thiên nhiên; nhưng cũng chính vì vậy mà càng cảm thấy con người thêm phần nhỏ bé. Thuyền, trăng, bến còn được sử dụng nhiều làm hình ảnh cho tình yêu lứa đôi:

“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng”

(Ca dao).

Hàn Mặc Tử đã sử dụng rất sáng tạo hình ảnh này nhưng nhuộm màu đơn côi, đau buồn hơn. Lời hỏi “có chở trăng về kịp tối nay” như thúc giục, như níu giữ. Thời gian với thi sĩ quý giá hơn bao giờ hết, liệu có đủ để ông được sống với khát vọng của mình. Khổ thơ là lời bộc bạch đau buồn, là nơi ông thanh minh khát khao được hạnh phúc, lời khẩn cầu vô cùng nghẹn ngào.

Bước sang khổ thơ cuối cùng, Hàn Mặc Tử hướng về thực tiễn, hướng tới con người, hoài nghi về ảo tượng.

“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có mặn mà?”

Khổ thơ cuối này mọi sự vật nhường nhịn như đã được xoá nhoà. Áo trắng của em tinh khôi, hòa với làn sương khói vừa hư vừa thực khiến khó lòng xác định. “Khách đường xa” là ước mong được gặp, cũng là càng muốn gặp đường càng xa. Hàn Mặc Tử càng cảm thấy băn khoăn, không thể nào xác định được tình cảm. Liệu chăng tình cảm ấy có thật, hay giống như làn sương khói mịt mù, không thể nắm giữ?!

Cả bài thơ điệp khúc “ai biết”, “thuyền ai”, “vườn ai” được thi sĩ sử dụng liên tục; đó cũng tạo nên sự bâng khuâng, xa vắng. Cảm giác hụt hẫng, nhớ mong khiến ông chỉ biết thở dài với chút hy vọng mỏng manh.

Xem Thêm : Top 16+ mẫu Phân tích khổ cuối Tràng Giang hay nhất

Hình ảnh trong bài thơ được đan cài vô cùng chặt chẽ, ở đó có cảnh và người; có hiện thực và hư ảo. Bằng như câu thơ nhẹ nhõm đã tạo nên một cái tôi Hàn Mặc Tử yêu thiên nhiên tha thiết, không những thế là sự đau buồn, dự cảm chia ly, sự vô vọng cũng như sự hoài nghi.

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ hay nhất, thể hiện rõ một con người Hàn Mặc Tử đầy sự xáo trộn, mang trong mình nhiều khát vọng. Từng dòng thơ cứ sợ hãi người ta mãi như cách mà ông đã để lại dấu ấn của mình giữa rừng thi ca Việt Nam, dù nhỏ thôi nhưng day dứt.

Cảm nhận về con người của Hàn Mặc Tử – Mẫu 3

Thơ là tình cảm, xúc cảm, là tâm tư, nỗi niềm của mỗi thi sĩ. Trong phong trào thơ mới, chủ đề tình yêu có không ít những bài thơ hay, gắn với những tên tuổi mọi thời từ Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính với những bài thơ mang đậm phong cách. Trong số đó phải kể đến “Đây Thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử. Tác phẩm là một bài thơ về tình yêu, nhưng đồng thời nó còn là vong hồn thi sĩ mang sở thích riêng, khác biệt của Hàn Mặc Tử.

Nói tới thơ là ta nói tới sự gắn gọn, cô đúc, từ ngữ ít mà mang nhiều ý nghĩa. Thơ không thể là những truyện ngắn, những câu chuyện. Thơ không cần thiết phải nhiều từ, thỉnh thoảng từ một từ trong thơ ta có thể cảm nhận toàn bộ bài thơ, đó chính là sự khác biệt giữa thơ và truyện. Thơ là ta đang sử dụng trái tim để cảm nhận, trái tim cảm nhận tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình, thơ không nhất thiết phải dài, từ ngữ phải luôn sống. Thơ thỉnh thoảng chỉ là lời chân tình, mộc mạc, phát ra từ trái tim, nó không quan tâm tới hình xác của sự sống, mọi thứ phương thức bên ngoài, mà nó chỉ cần cảm nhận bằng trái tim và truyền đi một tẹo vong hồn của cảnh vật, thông qua vong hồn thi sĩ.

Thông qua vong hồn Hàn Mặc Tử, tình yêu thiên nhiên tươi đẹp, ý thức tư nhân, đã hiện rõ trong “Đây Thôn Vĩ Dạ”, bản thân người nghệ sĩ ấy đã không có được một cuộc sống thông thường như bao người. Mọi ước mơ, hoài bão như bị vùi dập toàn bộ khi Hàn Mặc Tử bị bệnh, một căn bệnh phải cách ly với toàn cầu bên ngoài, một cuộc sống tù túng, ngột ngạt vô cùng. Nhưng thi sĩ vẫn không vì đó mà bỏ cuộc, niềm mê say nghệ thuật vẫn luôn cháy trực trong con người Hàn Mặc Tử. Bỏ qua những đớn đau về xác thịt, người nghệ sĩ ấy vẫn sáng tạo nghệ thuật, say sưa những lúc tưởng như vô cảm, thì thơ ca chính là giải thoát cho con người cô độc ấy, đang sống nhưng không phải là sống.

Mở đầu về con người Hàn Mặc Tử, là một nghi vấn vốn dĩ không cần có câu trả lời.

“Sao anh không về chơi thôn vĩ”.

Bởi đó không những là nghi vấn? mà có thể là lời mời, hay lời trách mang tính tình cảm của cô gái. “Thôn Vĩ”, nơi nhân vật trữ tình đã từng tới, anh và em, có nhẽ mới gặp nhau một lần, nhưng tình cảm là vạn lần. Cái cảnh tượng này tưởng như đều tới từ hai phía, nhưng cũng chỉ là do anh tự nhớ ra mà thôi, từ rất lâu, từng hình ảnh của thiên nhiên Thôn Vĩ vẫn luôn in sâu trong tâm trí của anh.

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

Những hình ảnh xúc cảm này từ lâu đã chôn sâu trong tâm trí của anh, nhưng nay có nhẽ vì một cái gì đó đã đánh tỉnh giấc ngủ của tình cảm đó, nó đã trỗi dậy mạnh mẽ, với xúc cảm mãnh liệt. “Nắng mới lên”, một hình ảnh vô cùng đẹp, phải một người sống vô cùng lâu thì mới có thể cảm nhận được những tia nắng rét mướt rơi xuống mặt đất, qua khe lá, kẽ lá. Sáng sớm tinh sương, mờ sương long lanh trên từng chiếc lá, chỉ cảm nhận thôi cũng thấy vô cùng tuyệt mỹ. Từ những cái nhỏ nhất cũng in sâu vào trong tâm trí anh. Động lực nào khiến nhân vật trữ tình anh, lại có thể nhớ sâu đậm tương tự? vì tình yêu, hay vì thiên nhiên quá đẹp, tấm lòng nghệ sĩ không thể cưỡng nổi?

“Vườn ai” ở đây, vườn ai có thể là vườn em, vườn anh, vườn của chúng ta. có nhẽ vườn mà anh muốn nói tới, là vườn tình của hai chúng ta. “Mướt” một cái gì đó của sự ướt, sự trong suốt của buổi sáng sớm. Một khu vườn mướt xanh như ngọc, xanh như sự trong xanh, cao xa của bầu trời. Để rồi xuất hiện một “mặt chữ điền”. Thường với một người con gái mang gương mặt chữ điền, thể hiện sự phúc hậu, đầy đặn, phẩm chất tốt đẹp của một người con gái. “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” có thể là nhân vật trữ tình, tự tưởng tượng ra hình ảnh một cô gái, qua lá trúc hay là hình ảnh thật mà anh nhớ khi còn ở thôn Vĩ Dạ. Nhìn thấy sự xuất hiện của mặt chữ điền, như báo hiệu một cái gì đó vượt trên tình yêu thiên nhiên. Cả khổ thơ hầu hết là về một bức tranh thiên nhiên Thôn Vĩ mộng mơ, nhưng đồng thời qua bức tranh đó Hàn Mặc Tử cũng cho người đọc thấy được sự chớm nở của tình yêu, nó thật đẹp và thật mộng mơ. Tình yêu đó khiến ta vượt qua mọi thử thách, thật mãnh liệt.

Đang say sưa trong bức tranh thiên nhiên tươi đẹp ấy, bỗng như bị đột ngột thay đổi xúc cảm như vỡ ra khi ta thấy sự đối lập, “gió theo lối phong vân đường mây”.

Theo quy luật tự nhiên, gió đi chiều nào theo chiều đó, không thể thay đổi. Nhưng con mắt cảm nhận của Hàn Mặc Tử, thì mọi thứ lại trở nên trái ngược, đụng độ nhau. có nhẽ do trong lòng đang có sự chia rẽ khó khắc phục, nên thiên nhiên, mọi thứ cũng như lòng người cũng như “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tất cả mọi cảnh vật từ dòng nước vẫn vô cảm, cũng trở nên biết buồn, có xúc cảm như một con người.

“Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”.

Tâm hồn con người đã buồn, thì dù cảnh vật có vô cảm tới đâu, cũng có thể trở nên có xúc cảm, cũng biết vui, buồn cùng con người buồn thiu. có nhẽ thi sĩ sử dụng thiên nhiên, cảnh vật để gián tiếp thể hiện nỗi lòng, tâm tư khó giãi bày của mình. Dòng nước, hoa bắp, giờ tới Thuyền ai? lại thêm một sự nghi vấn không hồi đáp, “thuyền Ai” là thuyền của ai? không ai biết, có nhẽ anh cũng không biết, mà nếu như có biết cũng không dám chắc là của ai. Một không gian yên tĩnh, không một bóng người bỗng xuất hiện. Thuyền ai tất cả mọi thứ, mọi cung bậc xúc cảm như dồn về, thu nhỏ bằng từ “kịp”, chỉ là một từ vốn thông thường, tưởng tuồng như không quan trọng, nhưng lại rất quan trọng. “Kịp” như một cái gì đó mong muốn thuyển ai đó có thể tới kịp trong tối nay, tại thời khắc này. Nhận thức rất rõ sự tồn tại của bản thân, không còn được bao lâu, nhân vật trữ tình đã vô cùng khát khao, có thể kịp, để có thể thưởng chọn lựa xúc cảm mà bao lâu ước ao, và ước muốn mãi chỉ là ước. Biết chắc rằng điều đó mãi không thể thành sự thực, vì không có ai biết được ước muốn đó, nhưng anh vẫn hy vọng, vẫn chờ đợi “Thuyền ai”, có thể chở trăng về kịp tối nay.

Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử vô cùng nhiều, trăng đối với thi sĩ như một tri kỷ muôn thuở, giữa một nơi cách biệt với toàn cầu bên ngoài, thì còn gì ngoài ánh trăng trên trời làm bạn, làm cảm hứng vơi đi nỗi đơn chiếc. Qua thơ Hàn Mặc Tử, ta thấy thơ không nhất thiết phải nhìn ngoại hình xem có đẹp, có sống, mà quan trọng là ý nghĩa nó mang lại thế nào? dù biết là cuộc thế tăm tối. Mọi thứ không thể trở thành hiện thực, nhưng nhân vật trữ tình nói chung và Hàn Mặc Tử nói riêng vẫn luôn hy vọng mang trong mình niềm ấp ủ, bởi họ luôn biết không có gì là đủ cả. Cuộc sống này luôn đòi hỏi ta phải sống, phải hy vọng, chỉ cần ta luôn có một trái tim trong sáng, luôn sống với xúc cảm của mình.

Hai khổ thơ đầu ta vẫn còn cảm nhận được cái gì đó từ hiện tại. Mặc dù là trong quá khứ, nhưng tới khổ thơ thứ ba đã thực sự thuộc về cõi mơ.

“Mở khách đường xa khách đường xa”. Mở khách đường xa bỗng trở nên xa lạ, lập đi lập lại càng thể hiện khoảng cách giữa hai người. mọi thứ đều trở nên mờ, ảo ảo, thật thật, khó phân biệt như đang trong cõi mơ.

Từ “vườn ai”, “Thuyền ai”, “khách đường xa”, bỗng phát lại bằng từ “em”, nhân vật trữ tình em mới thực sự xuất hiện.

“Áo em trắng quá nhìn không ra”, không phải là nhìn không ra, mà em cao quý quá, hồn nhiên quá. Anh không thể nào với tới sự trong sáng đó được, ý thức rất cao về bản thân, biết tình cảm của mình, nhưng không vì đó mà quên đi vị trí bản thân mình. Áo trắng thực ra chỉ là cái cớ, làm giảm bớt đi sự vô vọng về bản thân, lấy mọi lý do để che đi cái đơn chiếc trong tâm hồn, sương khói làm mờ đi hình ảnh của em, làm em dần xa anh, mà anh thì bất lực, không thể làm gì. Một nghi vấn lại xuất hiện “Ai biết tình ai có mặn mà”, tình ai? của em hay của anh nặng hơn, sâu hơn. Cũng không ai có thể trả lời được. có nhẽ anh, tình cảm của anh rất đậm sâu mới có thể viết lên những quang cảnh, những tâm tư đã bị vùi sâu bao lâu một cách chân thật tương tự.

Sử dụng nhiều nghi vấn tu từ, đối lập giữa thiên nhiên, để nói lên sự đối lập trong con người, tình cảm từ trái tim có một sức sống vô cùng mạnh mẽ, nó chân tình, sâu lắng, nhưng rất đẹp. Qua vong hồn thi sĩ Hàn Mặc Tử, đã mang tới cho ta bao xúc cảm vui, buồn, hạnh phúc, khổ đau. Từ vong hồn của cảnh vật, của thiên nhiên ta cảm nhận tâm hồn con người, tâm hồn thi sĩ. Thơ là vậy, chỉ cần ngắm nhưng lại mang ý nghĩa vô cùng to lớn, có những bài thơ đánh thức tâm hồn con người, cứu tâm hồn từ cõi chết trở về với xúc cảm.

Không chỉ riêng Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu hay Huy Cận cũng có những sở thích riêng, luôn mang ý nghĩa về cuộc sống tới với độc giả qua thơ. nếu như như Hàn Mặc Tử thể hiện sức sống mãnh liệt của tình yêu, thì Xuân Diệu lại mang tới cho người ta một thông điệp về sức sống, bước đi của thời gian. Hãy sống và thưởng thức trọn vẹn những gì mình đang có ở hiện tại, đừng để nó vượt qua một cách vô nghĩa./.

Nguồn: https://dacsanlucngan.vn
Danh mục: Lớp 11

Related Articles

Back to top button