Văn mẫu lớp 10 KNTT

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (13 Mẫu)

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí của quốc gia là một trong những chủ đề rất hay để viết văn nghị luận. Đây sẽ là tư liệu hữu ích hỗ trợ những em học tập, rèn luyện kỹ năng viết văn nghị luận xã hội, tăng năng lực cảm nhận về vấn đề tư tưởng đạo lý hay một hiện tượng đời sống.

Với 13 bài văn nghị luận Hiền tài là nguyên khí của quốc gia siêu hay trong bài viết dưới đây sẽ giúp những bạn học sinh lớp 12 có thêm nhiều gợi ý tham khảo, trau dồi tri thức, biết cách viết bài văn nghị luận hay, đủ ý để đạt được điểm cao trong những bài rà soát sắp tới. Ngoài ra những bạn xem thêm rất nhiều bài văn mẫu khác tại chuyên mục Văn 12.

Bạn Đang Xem: Nghị luận Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (13 Mẫu)

Dàn ý nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia

Dàn ý số 1

I. Mở bài

  • Dẫn dắt, giới thiệu ý nghĩa của tư tưởng

Khi xưa Thân Nhân Trung đã viết nên “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” để nhấn mạnh điều ấy và còn có mục đích kêu gọi người tài đóng góp cho quốc gia. Trong đó có nói “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. quả thực, sự trường tồn của một quốc gia nằm ở chính tài năng của mỗi người trong quốc gia đó. Đó là ngày xưa, vậy thời nay, vai trò của người tài thế nào đối với sự phát triển hưng thịnh của một quốc gia

II. Thân bài

1. Thế nào là “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”

  • “Hiền tài” là người tài cao, học rộng và có đạo đức, có tác động sâu sắc tới sự phát triển của quốc gia.
  • “Nguyên khí” được hiểu là sức mạnh vật chất, ý thức tiềm tàng nơi con người, nơi quốc gia đó có và mong muốn có,có trị giá quan trọng với mỗi quốc gia.
  • “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” tức là: Hiền tài, chính là phần cốt lõi, chất ban đầu để làm nên sự sống còn và phát triển của quốc gia. Quốc gia có rất nhiều hiền tài và biết sử dụng hiền tài thì sẽ phát triển vững mạnh.

2. giảng giải vì sao “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”

  • Một quốc gia nếu như không có hiền tài không thể giữ vững được độc lập, kinh tế, phát triển của dân tộc.
  • Xa xưa, lịch sử đã chứng minh, nếu như không có những bậc hiền tài như Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, hay Hồ chủ toạ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp,… quốc gia chúng ta liệu có được nền độc lập hoà bình như ngày ngày hôm nay.
  • Hiện đại, nếu như không có những nhà nghiên cứu khoa học ngày đêm tìm ra những loại thuốc chữa trị thì liệu cuộc sống của ta có yên ấm. Người hiền tài có vị trí vô cùng quan trọng với đời sống xã hội của chúng ta.
  • Người tài hẳn là những người giỏi, thông minh, có óc sáng tạo, có tầm hiểu biết sâu rộng về mọi mặt đời sống. Sự hiểu biết sâu rộng đó góp phần đưa quốc gia phát triển hơn, hiện đại hơn và vươn ra với bạn bè quốc tế.
  • Hiền tài còn là những người có khả năng suy đoán, suy xét thấu đáo, có tầm nhìn xa trông rộng, có thể vạch ra những đường hướng quan trọng cần thiết cho đi lên của xã hội trong tương lai. Những đường hướng của họ có tác động lớn tới quốc gia bởi xã hội mỗi ngày thay đổi, buộc người tài phải chú ý và xây dựng những hướng đi đúng đắn cho dân tộc.
  • Hiền tài không chỉ là những người tài giỏi, mà hiền tài còn là những người có đức tính tốt, sống hi sinh, sẵn sàng hi sinh mọi lợi ích tư nhân để suy nghĩ cho cả cộng đồng vì một tương lai phát triển rực rỡ của cả quốc gia.

3. Làm thế nào để phát huy vai trò của người tài trong sự phát triển chung của quốc gia trong xã hội ngày nay

  • Việt Nam ngày nay là một nước phát triển, và tình trạng làm lãng phí một nguồn chất xám lớn, tạo khoảng cách giàu nghèo rõ rệt giữa nước ta với những cường quốc khác.
  • Một lực lượng lớn trí thức trẻ đang kiếm tìm thời cơ cho bản thân ở những quốc gia khác có điều kiện sống và phát triển năng lực bản thân mạnh mẽ hơn. Nhiều người sau một thời gian học tập và làm việc tại một số quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Mĩ,… đã quyết định định cư trong khoảng thời gian dài, không quay trở lại làm việc trong nước.
  • quốc gia muốn giữ được người hiền tài thì phải có những phương án trong khoảng thời gian dài và hợp lý trọng dụng người tài. Nhà nước phải có chính sách huấn luyện và sử dụng đúng đắn cùng chính sách đãi ngộ trân trọng, hợp lí. Tạo điều kiện thuận lợi để hiền tài phát triển tài năng và cống hiến có hiệu quả nhất cho sự nghiệp phát triển quốc gia giàu mạnh, tạo được rất nhiều môi trường làm việc xứng đáng, thích hợp.
  • Mỗi tư nhân không ngừng phát triển, bồi dưỡng tri thức và đạo đức để trở thành hiền tài quốc gia, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của quốc gia.

III. Kết bài

Trong bối cảnh hội nhập ngày nay, yêu cầu phát triển quốc gia càng đặt ra một cách bức thiết. Để sánh vai cùng những nước mạnh trong khu vực và trên toàn cầu, chúng ta cần có rất nhiều hơn nữa những người hiền tài. Chính bởi vậy tư tường của Thân Nhân Trung lại được khẳng định tính đúng đắn và tiến bộ của nó. Đây chính là kim chỉ nam của một quốc gia phồn vinh, thịnh vượng thực sự.

Dàn ý số 2

I. Mở bài:

– Giới thiệu bài Hiền tài là nguyên khí quốc gia và tác giả Thân Nhân Trung

II. Thân bài:

1. Khẳng định vai trò của hiền tài đối với quốc gia

– Người tài như nguyên khí của quốc gia

– Nguyên khí thịnh thì quốc gia phát triển, thịnh vượng

– Nguyên khí suy thì quốc gia đi xuống, suy thoái

– Đề cao vai trò của người tài, họ là trụ cột của quốc gia, quyết định tới sự suy hay thịnh của quốc gia

– Nhà nước đã làm nhiều cách để thể hiện lòng hàm ân nhân tài và đồng thời kêu gọi nhân tài

2. Ý nghĩa của việc ghi tên, khắc tên trên bia

– Khuyến khích nhân tài cống hiến tài năng, sức mình cho quốc gia

– Làm cho nước nhà thịnh vững, bền lâu

– Cho mọi người nêu gương, răn đe kẻ xấu

– Tôn vinh người tài, làm gương cho thế hệ ngày mai

– Tạo nên một truyền thống hiếu học và yêu nước

III. Kết bài:

– Nêu cảm nhận của em về bài Hiền tài là nguyên khí quốc gia

Suy nghĩ Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 1

Thế hệ ngày nay, chắc nhiều người biết Thân Nhân Trung viết bài văn cho tấm bia trước hết ở Văn Miếu, ông ghi nhận về trí thức “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì quốc gia mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống cấp.”

Theo tôi hiểu, hiền tài là nguyên khí của quốc gia, đó chính là khát vọng của cả dân tộc. nếu như nói theo nghĩa đen của Đông y, “nguyên khí” không mùi, không màu, không vị nhưng con người không có nguyên khí là con người chết. Nguyên khí chính là sức sống của mỗi quốc gia. Ngay từ khi còn nhỏ, mới cắp sách tới trường, tôi đã được những thầy cô dạy về lòng tự hào quê hương Thái Bình đã sản sinh ra nhà chưng học, nhà giáo Lê Quý Đôn, ông đã có những nhận định trở thành chân lý cho mọi thời đại “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng” tức là quốc gia muốn hưng vượng phải nhờ vào trí thức.

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về trí thức cho tới nay vẫn chưa định hình. Hiền tài đương nhiên là trí thức. Người xưa, quan niệm trí thức là người được học rộng, biết nhiều, có trình độ huấn luyện cao hơn mặt bằng chung của xã hội. Theo tự điển: “Trí thức là người sử dụng trí tuệ làm việc, nghiên cứu, phản ánh, soi cầu hoặc để hỏi và trả lời những những nghi vấn liên quan hàng loạt những ý tưởng khác nhau”. C.Mác khái niệm: “Trí thức là người nói sự thực, phê bình không nhân nhượng về những gì hiện hữu. Không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào”.

Ngày nay, theo ý kiến chính thống, trí thức là những người lao động trí óc. Thái độ của trí thức là thước đo sự tiến triển của chế độ. Gs Cao Huy Thuần đại học Picardie (Pháp) khái niệm: “Ai đánh thức không cho xã hội ngủ, người ấy là trí thức bất kỳ họ là ai”. J.P.Sartre, triết nhân nức tiếng người Pháp đã nói “nếu như ai đó chế tạo ra quả bom nguyên tử, thì người đó là chưng học, chỉ khi nào ông chưng học ý thức được cái vũ khí giết thịt người gớm ghê ấy, đứng lên hô hào chống bom nguyên tử, lúc đó ông ta là trí thức”.

Lịch sử nhân loại, việc sử dụng người mỗi thời khác nhau tùy theo hoàn cảnh lịch sử, thời thế và vai trò, nhiệm vụ. Đông-Tây, kim-cổ người có thực tài và là người trí thức chân chính đều có “mẫu số chung” trong cách xử sự với xã hội và tầng lớp cầm quyền. Người chân chính có thực tài thật là hiếm hoi, cần phải biết tìm, biết trân trọng. Thời Tam quốc chí, Lưu Bị được lên làm vua thống trị nước Thục nhờ sáng suốt biết thu phục nhân tâm và trọng dụng người tài. tiêu biểu là ông đã 3 lần thực tâm cầu hiền, không quản đường xa, khẩn cầu Khổng Minh một nhân tài đa mưu, túc kế ra phò tá làm quân sư. Tần Thủy Hoàng vị Hoàng đế Trung Hoa trước hết có công thống nhất quốc gia nhưng thống trị quốc gia bằng bạo quyền, đốt sách, không coi trọng trí thức chỉ được thời gian ngắn quốc gia lại hỗn loạn, phân ly.

quốc gia ta, từ xưa tới nay lúc nào cũng nhiều người hiền tài, tuy nhiên từng thời kỳ, từng lúc mà nguồn hiền tài đó được khơi ra thế nào. tức là khi được quan tâm, trọng dụng thì hiền tài sẽ có, tri thức sẽ nhiều. Người có học vấn thường có khả năng suy đoán và nhận định tình hình sáng suốt hơn người thường. Thời phong kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm và xây dựng quốc gia phát triển rất hiệu quả nhờ tầng lớp trí thức lãnh đạo biết khơi dậy, hòa đồng cùng với nhân dân xả thân vì nghiệp lớn. Bài “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, bài thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt xác định chủ quyền của quốc gia “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” hay bản hùng văn lịch sử của Nguyễn Trãi: “Bình Ngô đại cáo” là minh chứng cho sự sáng suốt của những tiền nhân biết coi trọng và sử dụng trí thức là những nhà quân sự, nhà tư tưởng chiến lược của thời đại.

Mặc dù, chế độ phong kiến chỉ cho phép sĩ phu tiến thân trong chốn quan trường nhưng những bậc trí thức hiền tài khi thấy ý kiến của mình không được Vua tôn trọng, đã sẵn sàng rũ áo, từ quan về ở ẩn. Ông Chu Văn An nổi tiếng là bậc Thánh hiền, ngay khi đỗ Thái học sinh, ông từ chối làm quan, không màng lợi danh về quê mở trường dạy học có rất nhiều môn sinh. Vua Trần Minh Tông biết tài của Chu Văn An mời ông vào triều dạy học cho thái tử và những con đại thần. tới đời vua Trần Dụ Tông thấy nhiều đại thần xung quanh Vua là nịnh thần, thăm quan, nhà giáo Chu Văn An đã dũng cảm dâng sớ, vạch tội và xin chém 7 kẻ tội thần. Vua không nghe, ông liền treo ấn, từ quan về ở ẩn. “Thất trảm sớ” nổi tiếng của nhà giáo Chu Văn An vẫn còn được truyền tụng mãi tới muôn thuở sau. Thời Vua Quang Trung, biết rõ Ngô Thời Nhậm có tật nhưng vẫn sử dụng vì biết ông ta có tài. Tiếc thay, bậc minh quân tài giỏi như vua Quang Trung lại đoản thọ nên nghiệp lớn vẫn còn dở dang.

Năm 1930, thời kỳ đầu của cách mệnh, tư tưởng của một số người có thẩm quyền xuất phát từ nền kinh tế “tiểu nông” lạc hậu, nên đã ấu trĩ đề ra chính sách sai phép coi trí thức như quân thù cần đả phá với khẩu hiệu “ Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Thời thế tạo ra anh hùng. May mắn cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh xuất hiện với tư duy, tầm nhìn sáng suốt, khôn ngoan nhờ tích lũy và sàng lọc theo thời gian trong những năm tháng lăn lộn ở xứ người đã cảm hóa, thuyết phục được rất nhiều thân sĩ, trí thức tiêu biểu, một nhân tố vô cùng quan trọng để gọi dậy sức mạnh kết đoàn dân tộc, từ bỏ cuộc sống “nhung lụa”, bất chấp nguy hiểm, vào bưng, ra chiến khu đi theo kháng chiến tiêu biểu như Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Hữu Thọ vv…

Khi thành lập Chính phủ kháng chiến, chủ toạ Hồ Chí Minh đã có công thư “Tìm người tài đức” đăng báo để công khai, sáng tỏ vì chưng sợ rằng “không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không tới, thấy không khắp, tới nỗi những người tài đức không thể xuất thân”. chưng Hồ đã làm mướn việc cán bộ trên cơ sở dựa vào thành ý và minh tâm của dân để tuyển lựa chọn và sử dụng người tài, chứ không nghĩ rằng công việc tổ chức là chỉ thuộc về Đảng, làm trong nội bộ Đảng rồi đưa ra thuyết phục, thường là áp đặt, để dân chấp nhận.

Sau này, một số người có thẩm quyền với cách nhìn hẹp hòi, thiển cận về lý lịch, thành phần đã chuyển quyền, bỏ qua không huấn luyện và sử dụng nhiều người có năng lực, và chí khí cần thiết cho công cuộc tái thiết quốc gia. Họ chưa thấm nhuần lời dạy của Hồ chủ toạ: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý”. Ngày nay, cơ chế và tuyển lựa chọn cán bộ vẫn còn “chuyên quyền”, dễ thấy nhất là sự hẹp hòi, thiển cận không dám sử dụng và không biết sử dụng những người có thực tài ngoài Đảng. Thời đại ngày nay, do nền kinh tế thị trường, những trí thức có năng lực thực sự và tự trọng cao, không còn chí thú theo đuổi, cố bám vào cái ghế quyền lực để tiến thân. Có những lúc những cụ ta phải kêu lên:

“Nhân tài như lá mùa thu

Tuấn kiệt như sao biển sớm”

Đó là lúc báo hiệu quốc gia sẽ suy vong, lòng người ly tán. Bởi vậy, nhiều người nghĩ rằng, nếu như Đảng và Nhà nước không có cơ chế tuyển lựa chọn công khai, sáng tỏ (trí thức thích thi thố tài năng) và chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc thích hợp thì rất khó tuyển lựa chọn được những người hiền tài cho quốc gia. Người được tuyển lựa chọn trong vòng luẩn quẩn “chuyên quyền” đó, dễ dẫn tới một số người lọt vào “mắt xanh” của Đảng nhưng lại không đủ tâm và tầm để sử dụng nguồn nhân lực có trí tuệ, người giúp việc tài giỏi hơn mình.

Cổ nhân đã dạy: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” tức là ngay cả người tầm thường cũng phải chịu trách nhiệm trước sự hưng vong của quốc gia. Trí thức lại càng phải có trách nhiệm hơn thế!. Ngày nay, tiếp tương truyền thống của tổ tông, trí thức cần được rèn luyện để trở thành hiền tài có vai trò và trách nhiệm cống hiến tài năng vào tiến trình phát triển quốc gia. Người khôn học kinh nghiệm lịch sử, kẻ đại học kinh nghiệm bản thân. Thời xưa, có những nhà vua anh minh đề ra chức “Gián quan” được miễn tội chém đầu để can ngăn những việc không đúng, không nên làm của Vua. Tri thức thời nay là tầng lớp tinh hoa của xã hội, sáng tạo ra những trị giá ý thức, tôn trọng chân lý phải biết làm phản biện chính là hình ảnh của “gián quan” thời xưa nhưng được nâng lên tầm cao mới theo tư duy của xã hội dân chủ và thích hợp với thời đại toàn cầu hóa của nền kinh tế tri thức.

Chúng ta tin vào sức năng động tự thân của dân tộc, sự sáng tạo và dẻo dai của giới trí thức như ngọn lửa bùng lên để những người có trọng trách biết suy nghĩ, trọng dụng, quy tụ, sử dụng lực lượng trí thức, nhất là những bậc trí thức lão thành, tâm huyết có thương hiệu, bản lãnh hiến kế cho tiến trình xây dựng quốc gia. những bậc trí thức hàng đầu của quốc gia, theo quy luật của tạo hóa sẽ có lúc phải ngừng nghỉ, đó là khoảng trống mênh mông để lại.

Tôi được nghe kể, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới tới thăm chúc sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân kỷ niệm 55 năm ngày thắng lợi Điện Biên Phủ. Câu trước hết Đại tướng hỏi Thủ tướng là về dự án bauxite Tây Nguyên. Thủ tướng chân tình, tư vấn ý kiến của Đại tướng đã được Chính phủ nghiêm túc tiếp thu, nghiên cứu, Bộ Chính trị cũng rất quan tâm tới vấn đề này. Có thể nói người phản biện dự án bauxite Tây Nguyên, nhà trí thức lão thành cách mệnh nổi tiếng Võ Nguyên Giáp luôn trằn trọc, suy nghĩ về quốc gia đã được Thủ tướng thực tâm, cầu thị, tiếp thu tuy khá muộn nhưng đó là bài học vô giá về sử dụng hiền tài của quốc gia trong thời đại ngày nay.

Nhiều người vẫn còn nhớ một “trí thức bẩm sinh” không bằng cấp luôn biết đánh thức xã hội thức dạy cũng mang họ Võ là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Với cốt cách của kẻ sĩ, bộ óc thông tuệ, tư duy minh triết, ông Sáu Dân nắm vững “thuật sử dụng người” và có khí phách trong nhiều bài phản biện đột phá sâu sắc được lòng dân nhưng cũng làm cho một số người có đầu óc “tiểu nông” không hài lòng. chứng cứ là ông Sáu mới nằm xuống chưa đầy năm, nhưng có kẻ “bảo vệ” nào đó cho tờ báo ở TP.HCM (ít độc giả) nên mới dám công khai đả phá vào những tư tưởng mang tầm vóc lớn, đột phá tìm hướng đi mới của dân tộc cũng như tư duy hòa hợp dân tộc qua câu nói nổi tiếng một thời của ông: “ngày thống nhất, triệu người vui nhưng cũng có triệu người buồn”! Xin nói rõ hơn, câu này họ trích dẫn không đúng thành ra xuyên tạc ý của ông Sáu Dân. Phải là người tri thức chân chính, có tầm nhìn xa, biết nén thù nhà (vợ và 3 con thân yêu bị địch giết thịt hại) đặt quyền lợi quốc gia lên trên tất cả, ông Sáu Dân mới phát biểu nguyên văn như sau: “một sự kiện liên quan tới chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu” (báo Quốc tế [Bộ Ngoại giao] ngày 13.4.2005, được in lại trong sách “Những câu chuyện về anh Sáu Dân”. Nhà Xuất bản Thông tấn. Hà Nội 2008. tr.75.) Tôi tin rằng nếu như có toàn cầu tâm linh, thì ở cõi vĩnh hằng, ông Sáu vẫn luôn tự hào vì những trí thức lớn của dân tộc, nhân tài của quốc gia thì tên tuổi và sự nghiệp luôn đọng mãi trong dân và sống mãi với thời gian.

Nhìn xa, hiền tài phải được hướng tới lớp người trẻ tuổi bởi vì họ mới là lớp người có khả năng tiếp thu cái mới, sáng tạo, phụng sự quốc gia khi còn sung sức. Khơi nguồn hiền tài từ lớp trẻ, đặc biệt là tuổi xanh trí thức là trục đường trong khoảng thời gian dài và đúng đắn nhất. Cần tạo môi trường cho trí thức làm việc, phát huy năng lực, đãi ngộ xứng đáng công sức, thành tựu họ mang lại. Tuy nhiên, vẫn có luồng ý kiến, trí thức chân chính không cần đãi ngộ, họ sẽ tự vấn tìm cách để sáng tạo và tự sử dụng mình vào những công việc hữu ích cho tổ quốc. Có thực tế, “luật bất thành văn”, trong hệ thống xét duyệt, bổ nhiệm cán bộ cao cấp của Nhà nước không có chỗ dung thân cho những trí thức tài giỏi ngoài Đảng. Có nghịch lý, tương đối nhiều trí thức tiêu biểu cũng lại không thiết tha vào Đảng để làm trục đường tiến thân.

nếu như chúng ta hiểu một cách sâu sa chân lý “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” không cần phải đốt đuốc lên mới thấy được người có thực tài mà chỉ cần có kế sách cụ thể, thực sự trân trọng tài năng, khiêm nhượng mời gọi người tâm huyết để khơi nguồn hiền tài còn rất nhiều tiềm năng của quốc gia để làm cho quốc gia hưng thịnh và hiền tài ngày một nhiều thêm. Trong công việc cán bộ Hồ Chí Minh luôn coi trọng dân, phải theo ý dân: “Dựa theo ý kiến của họ mà đề bạt cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng”. Không hiểu vì sao lúc này, tôi lại tự vấn và ước ao nếu như những người làm mướn việc cán bộ không kinh doanh quyền lực, thực sự thấu hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh thì giới tinh hoa của trí thức kể cả trong và ngoài Đảng lại đồng nghĩa với giới lãnh đạo thì chắc chắn quốc gia sẽ hưng thịnh, hội nhập và xã hội sẽ ổn định, phát triển vững bền.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 2

Ngôi sao sáng nhất trên bầu trời quốc gia là người hiền tài. Ánh sáng của họ rực rỡ nhất, trong sáng nhất. Sự trường tồn của mỗi quốc gia phụ thuộc phần nhiều vào những người hiền tài. Bởi có nhẽ “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”.

Trước hết, hiền tài là những người tài giỏi, có năng lực, thông minh, có đức độ, có tác động sâu sắc tới sự phát triển của quốc gia.Nguyên khí được hiểu là sức mạnh vật chất, ý thức tiềm tàng nơi con người, nơi quốc gia đó có và mong muốn có,có trị giá quan trọng với mỗi quốc gia. tương tự ý nói tới của câu nói khẳng định định trị giá của người tài với sự phát triển của mỗi quốc gia.

Vì sao nghĩ rằng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”? Một quốc gia nếu như không có hiền tài không thể giữ vững được độc lập, kinh tế, phát triển của dân tộc. Ngay từ xa xưa, lịch sử đã chứng minh, nếu như không có những bậc hiền tài như Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, hay Hồ chủ toạ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp,… quốc gia chúng ta liệu có được nền độc lập hòa bình như ngày ngày hôm nay. Hay trong hiện đại, nếu như không có những nhà nghiên cứu khoa học ngày đêm tìm ra những loại thuốc chữa trị thì liệu cuộc sống của ta có yên ấm. Người hiền tài có vị trí vô cùng quan trọng với đời sống xã hội của chúng ta.

Xem Thêm : Dàn ý phân tích Chùm thơ hai-cư Nhật Bản hay nhất

Người tài hẳn là những người giỏi, thông minh, có óc sáng tạo, có tầm hiểu biết sâu rộng về mọi mặt đời sống. Họ tham khảo văn hoá nhân loại từ xa xưa và nhanh chóng tiếp cận được văn hoá thời nay. Sự hiểu biết sâu rộng đó góp phần đưa quốc gia phát triển hơn, hiện đại hơn và vươn ra với bạn bè quốc tế.

Hiền tài còn là những người có khả năng suy đoán, suy xét thấu đáo, có tầm nhìn xa trông rộng cho nên có thể vạch ra nhưng đường hướng quan trọng cần thiết cho đi lên của xã hội trong tương lai. Những đường hướng của họ có ảnh hướng lớn tới quốc gia bởi xã hội mỗi ngày thay đổi, buộc người tài phải chú ý và xây dựng những hướng đi đúng đắn cho dân tộc.

Hơn thế, hiền tài không chỉ là những người tài giỏi, mà hiền tài còn là những người có đức tính tốt, sống hi sinh, sẵn sàng hi sinh mọi lợi ích tư nhân để suy nghĩ cho cả cộng đồng vì một tương lai phát triển rực rỡ của cả quốc gia.

Tuy nhiên, thực tế ngày nay, quốc gia ta đang xảy ra tình trạng “chảy máu chất xám”. Một lực lượng lớn trí thức trẻ đang kiếm tìm thời cơ cho bản thân ở những quốc gia khác có điều kiện sống và phát triển năng lực bản thân mạnh mẽ hơn. Nhiều người sau mọt thời gian học tập và làm việc tại một số quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Mĩ,… đã quyết định định cư trong khoảng thời gian dài, không quay trở lại làm việc trong nước. Việt Nam ngày nay là một nước phát triển, và tình trạng làm lãng phí một nguồn chất xám lớn, tạo khoảng cách giàu nghèo rõ rệt giữa nước ta với những cường quốc khác. Lý hương nguyên nhân này, một phần do quốc gia ta chưa có những chính sách trọng dụng người tài, môi trường phát triển tài năng còn thấp và một phần do tâm lý chung của con người vì lợi ích tư nhân.

bởi vậy muốn quốc gia có được những hiền tài giúp ích cho xá hội phát triển, thì chính phủ phải có những phương án trong khoảng thời gian dài và hợp lý trọng dụng người tài. Tạo được rất nhiều môi trường làm việc xứng đáng, thích hợp. Là học sinh, chúng ta phải không ngừng học tập, rèn luyện bản thân để góp phần nhỏ vào lợi ích dân tộc.

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia” ý kiến của Thân Nhân Trung quả thực rất đúng đắn. Với một quốc gia đang phát triển và mong muốn hòa nhập với toàn cầu như Việt Nam thì điều đó lại càng quan trọng. quốc gia và hiền tài là hai khái niệm không thể tách rời.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 3

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. quả thực, sự trường tồn của một quốc gia nằm ở chính tài năng của mỗi người trong quốc gia đó.

“Hiền tài” ở đây là nói tới những con người vừa có tài, vừa có đức trong xã hội. Nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” chính là lời khẳng định: Căn nguyên cho sự vững mạnh của một quốc gia nằm ở những người tài giỏi và tư cách cao đẹp và chúng ta cần phải biết tìm và trân trọng họ.

Quang Trung – Nguyễn Huệ đã từng nói: “Dựng nước lấy việc học làm đầu. Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”. Dân tộc Việt Nam trải qua biết bao cuộc chiến tranh ngoại xâm, nhiều người đã phải hi sinh và ngã xuống. Để có được một quốc gia hòa bình và phát triển như ngày ngày hôm nay, không chỉ nhờ sức mạnh kết đoàn, ý chí kiên cường của người dân Việt Nam, mà trong đó còn có sự đóng góp không nhỏ của những con người tài giỏi, tận tình vì dân, vì nước.

Ý kiến của Thân Nhân Trung trải qua mọi thời đại vẫn còn vẹn nguyên trị giá. Vì vậy, dù trong hòan cảnh nào thì những nhân tài vẫn luôn cần được trân trọng. Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có rất nhiều chính sách trọng dụng người tài để họ có thời cơ được phát triển bản thân, cống hiến sức lực của mình cho công cuộc xây dựng và bảo vệ quốc gia. Những sinh viên xuất sắc, cán bộ có năng lực, … đều được chính phủ trợ cấp chí phí sinh hoạt và học tập ở nước ngoài để mai này phục vụ quốc gia. không những thế, những cải cách giáo dục luôn được đưa ra để thích hợp với từng thời kì phát triển. những trường học được xây dựng tạo điều kiện cho trẻ em mọi vùng miền đều có thời cơ học tập, những chính sách miễn giảm học phí cho những em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được đưa ra, những quỹ học bổng dành cho những em có thành tích cao trong học tập cũng được xây dựng và duy trì…

Tuy nhiên, thực tế ngày nay, quốc gia ta đang xảy ra tình trạng “chảy máu chất xám”. Đây là hiện tượng một lực lượng lớn trí thức trẻ đang kiếm tìm thời cơ cho bản thân ở những quốc gia khác có điều kiện sống và phát triển năng lực bản thân mạnh mẽ hơn. Nhiều người sau mọt thời gian học tập và làm việc tại một số quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Mĩ,… đã quyết định định cư trong khoảng thời gian dài, không quay trở lại làm việc trong nước. Việt Nam ngày nay là một nước phát triển, và tình trạng này diễn ra đang làm lãng phí một nguồn chất xám lớn, tạo khoảng cách giàu nghèo rõ rệt giữ nước ta với những cường quốc. Không những thế, tình trạng “chảy máu chất xám” đòi hỏi chính phủ phải cấp một khoản tiền không nhỏ để trả lương cho những chuyên gia nước ngoài cũng như kinh phí cho việc mua máy móc, thiết bị nước ngoài trong khi bản thân quốc gia có rất nhiều người tài giỏi hoàn toàn có thể thiết kế, tạo ra những máy móc, công nghiệp hiện đại, … phục vụ cho kinh tế, xã hội … Điều này chứng tỏ những chính sách đãi ngộ của ta hiện vẫn còn nhiều bất cập cần được xem xét, khắc phục. Ngoài ra, do điều kiện kinh tế khá giả, nhiều bạn trẻ quen thói dựa dẫm, ỷ lại gia đình mà không có chí tiến thủ. Thay vì học tập, những bạn lại sa đà vào thói ăn chơi thu giãn xa hoa. Điều này không chỉ làm tác động tới tương lai của những bạn mà còn tác động xấu tới sự phát triển của quốc gia.

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, và thế hệ trẻ là chủ sở hữu tương lai của quốc gia. Vì vậy, ngay từ khi đang ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần phải ra sức học tập, rèn luyện đạo đức để mai này phát huy tài năng, góp phần phát triển quốc gia, như Mặc Tự đã từng nói: “quốc gia có rất nhiều người tài, quốc gia càng hưng thịnh”.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 4

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã rút ra cho mình nhiều bài học kinh nghiệm xương máu, bồi đắp và phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc. Một trong số đó là truyền thống quý trọng người tài, để quốc gia được phát triển phồn thịnh, vững bền thì không thể nào thiếu đi nhân tố con người. Mọi yếu tố khách quan bên ngoài có thuận lợi tới đâu nhưng nếu như thiếu đi tư duy sáng tạo của người tài thì cũng không thể đưa quốc gia phát triển lên những tầm cao mới. Sớm trông thấy tầm quan trọng ấy mà Thân Nhân Tông đã có câu nói rất nổi tiếng: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” để nhắc nhở thế hệ sau phải biết bồi dưỡng nhân tài, lấy đó làm cơ sở xây dựng quốc gia.

Nói “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, vậy “hiền tài” là gì? Đó chính là những con người tụ họp nhiều những phẩm chất cao quý, vừa có tài lại vừa có đức, tinh thông tinh thông nhiều ngành trong đời sống xã hội, là người nhân nghĩa có lòng yêu nước thương dân. “Nguyên khí” chính là những yếu tố, sức mạnh tiềm tàng bên trong của quốc gia. Theo cách nói của Thân Nhân Tông “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” đó là khẳng định tầm quan trọng của con người, “hiền tài” như là xương sống của quốc gia, đưa quốc gia phát triển vững bền, thịnh vượng.

Từ những buổi đầu dựng nước, quốc gia ta đã phải đụng độ với đầy rẫy những trở ngại thử thách. Thiên nhiên khắt nghiệt, quân thù xâm lược, ấy vậy mà nhờ có công những vua Hùng quốc gia đã được xây dựng vững bền. Trải qua thêm nghìn năm lịch sử đầy biến cố, quốc gia lại xuất hiện nhiều hiền tài: Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Hồ Chí Minh,… Chính họ đã giữ cho quốc gia được độc lập, đánh đuổi quân thù xâm lược bằng mưu trí tài năng và bản lĩnh của mình. Một quốc gia nhỏ như Việt Nam ta luôn bị quân thù khinh thường, vũ khí thô sơ, sức người có yếu thế nhưng trong kháng chiến bằng sự khôn ngoan, mưu trí của người lãnh đạo cùng với ý thức kết đoàn của nhân dân, chúng ta đã đánh đuổi mọi quân thù xâm lược, từ Trung Quốc người đông sức mạnh cho tới đế quốc Pháp, Mỹ tàn bạo đều phải chịu thua trước Việt Nam – một quốc gia anh hùng.

Ngày nay, Đảng ta trên trục đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vẫn lấy tư tưởng “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” làm cốt lõi, chúng ta tiếp tục kế thừa và phát huy những bài học mà ông cha để lại. Ra sức huấn luyện những người “hiền tài” được xem là rường cột tương lai của quốc gia, bằng cách mở nhiều trường, khuyến khích học tập, chế độ học bổng, đãi ngộ dành cho người tài, trang bị hạ tầng thu hút nhân tài. Chúng ta tận tình coi trọng nhân tài và cũng ra sức kiếm tìm, phát hiện họ để huấn luyện trở thành những người tài giỏi, nhân đức để mai này đem tài năng đó phục vụ cho công cuộc xây dựng, phát triển quốc gia. Thân Nhân Tông nghĩ rằng: “Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. quả thực vậy, nếu như một quốc gia không đặt yếu tố con người lên làm đầu thì “thế nước” sẽ không thể vững mạnh mà ngày càng suy yếu hoặc nếu như có phát triển thì sẽ không thể ổn định, vững bền.

Để chứng minh điều trên, chúng ta thử nhìn quanh toàn cầu, có thể thấy rằng những quốc gia phát triển họ đều đặt yếu tố con người làm trọng. Tiêu biểu Hàn Quốc một quốc gia chịu nhiều cuộc chiến tranh, giành được độc lập muộn, khí hậu khắc nghiệt,… Nhưng bằng sự quyết tâm thay đổi vận mệnh quốc gia, tích cực đầu tư vào con người như thay đổi chế độ giáo dục, chế độ săn sóc y tế, chế độ dinh dưỡng, và họ đã thành công vươn lên thành một quốc gia giàu mạnh vượt bậc, được ví là con Rồng của châu Á. Hay Nhật Bản quốc gia không được thiên nhiên ưu đãi, thiên tai, động đất, sóng thần xảy ra liên miên, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, thế nhưng họ đã rất khôn ngoan biết lấy “hiền tài” làm động lực xúc tiến quốc gia phát triển, ra sức huấn luyện và thu hút nhân tài, để vươn lên trở thành cường quốc xếp hạng thứ ba trên toàn toàn cầu.

Nhưng đáng buồn thay, Việt Nam ta đang xuất hiện một tình trạng đáng báo động là hiện tượng “chảy máu chất xám”. những người tài giỏi tìm đường ra nước ngoài sinh sống, làm việc, đem tài năng cống hiến ở một quốc gia khác, mà không muốn ở lại đất mẹ chỉ vì đãi ngộ không xứng đáng, không có một môi trường phát triển tài năng. Nhận thấy tình hình đó thiết nghĩ, nhà nước cần phải tĩnh tâm suy xét lại thực tiễn, cần chú trọng hơn trong việc tạo môi trường cho người tài được phát triển bản thân, đồng thời phải có chế độ đãi ngộ đặc biệt hơn để khuyến khích họ cống hiến hết mình. Sẽ rất lãng phí nếu như người tài không được phát hiện, bồi dưỡng kịp thời, đó là một tổn thất vô cùng lớn cho quốc gia, dân tộc, chẳng khác gì “nguyên khí của quốc gia” đang dần hao mòn suy kiệt, đây là một vấn đề rất cấp bách, tác động tới sự tồn vong của dân tộc, của quốc gia.

quốc gia trải qua nghìn năm lịch sử, như Nguyễn trãi từng nói: “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”, ông cha ta đã biết dựa vào thế mạnh đó để xây dựng quốc gia vững mạnh, trường tồn. Ngày nay hòa cùng sự phát triển của toàn cầu, quốc gia ta càng cần phải giữ vững và phát huy mạnh mẽ truyền thống trọng người hiền tài để đưa quốc gia tiến lên “sánh vai cùng những cường quốc năm châu” như lời chưng đã dặn dò năm xưa.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 5

Thế hệ ngày nay, chắc nhiều người biết Thân Nhân Trung viết bài văn cho tấm bia trước hết ở Văn Miêu, ông ghi nhận về trí thức “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nưóc mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống thấp.” Đây là tư tưởng quan trọng nhất về văn hoá, giáo dục của Thân Nhân Trung đuợc trình bày tập trung, rõ ràng trong bài ký đề tên bia Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba(1442). Còn chính là khát vọng của cả dân tộc. Tư tưởng trên, trước hết khẳng định tầm quan trọng của hiền tài đối với quốc gia, là việc đem lại hưng thịnh cho quốc gia.

Trong bài kí, Thân Nhân Trung không nói nhân tài mà nói “hiền tài”. Hiền tài theo quan niệm người xưa, cũng như của tác giả là người có cả tài năng không những học rộng hiểu nhiều, có đủ tài giúp vua trị nước, đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân; có cả tiết hạnh, là người kiểu mẫu về đạo đức, suốt đời chăm lo tu dưỡng phẩm hạnh cho bản thân, đem hết tài năng và tiết hạnh phục vụ cho quốc gia. Đó là người “lấy trung nghĩa mà rèn cho danh thực hợp nhau, thực hành điều sở học, làm nên sự nghiệp vĩ đại sáng ngời, khiến cho mọi người đời sau kính trọng thành danh, mến mộ khí tiết…”. Về khái niệm “nguyên khí”, trong kho tàng thư tịch cổ Trung Hoa đã có rất nhiều sách đề cập. Sách “Bạch hổ Thông” viết: “Địa giả, nguyên khí sơ sinh, vạn vật chi tổ” (Đất là nơi sản sinh ra nguyên khí, tổ của muôn loài), xem nguyên khí là khí đại hoá lớn lao. Còn sách “Đường thư” viết: Liễu Công Độ thiệp nhiếp sinh. Thường viết: “ Ngô sở vô thuật, bất dĩ nguyên khí tả hi nộ nhĩ” (Liễu Công Độ giỏi việc sinh dưỡng. Ông thường nói: Ta vốn không có thuật gì, chẳng qua biết dựa vào tinh khí mà điều hoà sự yêu ghét, mừng, giận mà thôi), xem nguyên khí là để chi tính khi con người ta. Thần Nhân Trung đã mượn nghĩa từ sách Đường thư: nguyên khí chính là tình khí và vận dụng một cách sáng tạo.

Có thể nói, trong lịch sử văn hoá, giáo dục trước đời Lê Thánh Tông, chưa có ai đặt vấn đề như ông. Người ta không ai là không biết mốì quan hệ giữa hiền tài và sự thịnh suy của một triều đại, một quốc gia. Nhưng còn coi người “hiền tài là nguyên khí quốc gia” thì phải ghi nhận khởi đầu từ Thân Nhân Trung một câu tổng kết chuẩn xác cho cả một đường lối chiến lược về văn hoá, giáo dục của bất cứ một thời đại nào, một chính thể nào.

Tư tưởng ấy, một lẩn nữa được nhắc lại trong bài kí để tên bia Tiến sĩ khoa Đính Mùi, niên hiệu Hồng Đức 18 (1487): “nếu như không có người tài đông đảo thì làm sao có được sự thịnh trị yên bình” và “muốn có nền giáo hoá, quốc gia thịnh trị đó là cái gốc của nó là phải có hiền tài”.

Quan niệm “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” do Thân Nhân Trung đưa được ra những vương triều phong kiến Việt Nam từ triều vua Lê Thánh Tông trở đi coi như một tư tưởng quan trọng trong quốc sách văn hoá, giáo dục.

“Nhân tài thịnh, chính trị lên cao, vận nước nhà rực rỡ vô cùng, càng sâu xa càng trong khoảng thời gian dài, mà càng sáng sủa lớn lao thêm” (Bia số 4, khoa Bính Tuất, niên hiệu Quang thuận 7, 1467).

“Quốc gia có người tài cũng như thân thể con người có nguyên khí. Nguyên khí hưng thịnh thì con người thừa hưởng thọ trong khoảng thời gian dài, người tài đông đảo thì quốc gia được thái bình vững chãi “(Bia số 29, khoa Bính Thìn, niên hiệu Hoằng Định 20, 1616).

Quan niệm như thế là khẳng định hiền tài định đoạt vận mệnh quốc gia, dân tộc. Tư tưởng này dẫn tới sự cầu hiền. Đồng thời nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc “chăm lo nuôi dưỡng và huấn luyện hiền tài bồi đắp thêm nguyên khí”.

Có thể nói, ở Việt Nam thời phong kiến, chưa bao giờ nền giáo dục, thi cử lại thịnh đạt cũng như vai trò người trí thức lại được đề cao, đãi ngộ như đời Lê Thánh Tông. Chính vì vậy, trong sắp 40 năm làm vua, Lê Thánh Tông đã đưa nhà Lê phát triển tới đỉnh cao về mọi mặt đạt tới vinh quang trong sự nghiệp xây dựng và phát triển quốc gia hồi thế kỷ XV. Sử gia Ngô Sĩ Liên khen Lê Thánh Tông là vua “anh hùng, tài lược”.Vai trò của nhà nước, người đứng đầu chế độ phong kiên là nhà vua. Muốn bồi dưỡng được hiền tài, theo Thân Nhân Trung người trên (nhà vua) phải biết chăm lo cho dân, lo việc nước khiến cho nước mạnh dân giàu. “Hiền tài phồn thịnh có quan hệ tới khí hóa của trời đất và cốt ở cái gốc giáo hoá của thánh nhân”. Nói sự giáo hoá của thánh nhân là nói về sự quan tâm đặc biệt của nhà vua đối với việc giáo dưỡng tuyển lựa chọn và đãi ngộ nhân tài. Thời đại của Thân Nhân Trung sống, Lê Thánh Tông là một minh quân có tầm nhìn chính trị, có trình độ văn hoá, có ý thức yêu nước thương dân, chú trọng tới huấn luyện và sử dụng hiền tài trong xây dựng quốc gia đưa quốc gia Đại Việt trở thành thịnh trị. Việc huấn luyện người hiền tài, sử dụng người tài của vua Lê Thánh Tông được phản ánh rõ nét ở 12 khoa thi Tiến sĩ lấy đỗ 502 người, trong đó có 10 người đỗ đệ nhất giáp, đệ nhất danh, và huy động những hiền tài tham gia công cuộc chấn hưng mạnh mẽ nước nhà. Nhà vua còn cho dựng bia khắc tên những người thi đỗ và đặt ở Quốc Tử Giám.

Tiếp thu tinh hoa văn hoá truyền thống dân tộc, chủ toạ Hồ Chí Minh nhà văn hoá, giáo dục lớn, Người suốt đời chăm lo cho độc lập của quốc gia, hạnh phúc của nhân dân, “chỉ có một sự thèm muốn, thèm muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Cho nên, quốc gia vừa giành độc lập, Người đặt giáo dục là một trong nhiệm vụ hàng đầu để chấn hưng quốc gia. Người chỉ ra rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người kêu gọi mọi người Việt Nam có quyền lợi và trách nhiệm học tri thức mới để xây dựng nước nhà; nhất là những cháu thiếu niên phải ra sức học tập để cho non sông Việt Nam, dân tộc Việt Nam được vẻ vang sánh vai cùng những cường quốc năm châu.

kế bên việc chăm lo giáo dục huấn luyện Người còn sử dụng chính sách chiêu hiền tài. Người đưa vào chính phủ tạm thời, những bộ, một số trí thức là những bậc thân sĩ yêu nước như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, những trạng sư, chưng sĩ, kỹ sư Tây học như Phan Anh, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Tùng…Vận động một số trí thức yêu nước đang nghiên cứu, làm việc ở Châu Âu như Trần Đại Nghĩa, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Thọ, Đặng Văn Ngữ… về nước tham gia kháng chiến. Rồi những văn nghệ sĩ nổi tiếng thời ấy cũng đứng vào hàng ngũ dưới lá cờ của chưng như Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Đình Thi…Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, lực lượng trí thức ấy đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của dân tộc. Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. chủ toạ Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới việc huấn luyện và sử dụng hiền tài. Người đặt nhiệm vụ phải huấn luyện con người Việt Nam mới vừa hồng vừa chuyên (có đủ đức tài) đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người coi văn hoá giáo dục là một mặt trận quan trọng của sự nghiệp cách mệnh trong từng giai đoạn cách mệnh cụ thể và có tác dụng to lớn đối với sự phát triển của một quốc gia, một dân tộc. Trên ý thức ấy, từ Đại hội VI tới nay, Đảng ta luôn khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ , giáo dục và huấn luyện là quốc sách hàng đầu”, “khoa học công nghệ là động lực, giáo dục và huấn luyện là nhân tố cơ bản để tạo ra động lực” (quyết nghị Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành T.Ư khoá IX) cho sự phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia.

ý kiến của chủ toạ Hồ Chí Minh trong giáo dục, huấn luyện và sử dụng hiền tài đã chấn hưng nền giáo dục nước nhà, phát huy bản lĩnh và tài năng, nhận đúng vai trò của người hiền tài trong tiến trình phóng thích dân tộc, xây dựng quốc gia độc lập, phồn vinh là truyền thống quí báu của tổ tông ta được Thân Nhân Trung nêu lên cách đây hơn 500 năm.

Ngày ngày hôm nay, quốc gia đang chuyển mình trong hoàn cảnh mới của dân tộc và thời đại, đang hội nhập kinh tế, chuẩn bị nội lực, thực lực cho kinh tế Việt Nam khi nước ta hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu và ngành giáo dục, huấn luyện, làm sao để Việt Nam có một nền giáo dục chất lượng cao, chính sách sử dụng nhân tài thế nào để người tài có điều kiện phát huy hết khả năng của mình, phục vụ đắc lực và có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá quốc gia là những vấn đề nóng nhất mà chúng ta cần quan tâm để xây dựng và phát triển quốc gia. Giáo dục đang trở thành quốc sách hàng đầu, chấn hưng giáo dục là chìa khoá mở cửa vào tương lai dân tộc. Văn hoá, khoa học và lực lượng trí thức đang giữ vai trò quan trọng đối với sự nghiệp chung của quốc gia. Tư tưởng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” của Trần Nhân Trung thường xuyên nhắc nhở những triều đại về chính sách đối với kẻ sĩ, và luôn luôn minh chứng lời nói bất hủ của ông về sự thịnh suy của quốc gia gắn liền với sự thịnh suy của hiền tài.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 6

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Đó là nhận định đúng đắn của Thân Nhân Trung trong Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba-1442.

Từ xưa ông cha ta đã từng quan niệm nguyên khí của quốc gia vừa là khát vọng, vừa là sức sống của dân tộc. Nhân tài đóng vai trò trong sáng tạo ra những trị giá văn hóa, những công nghệ hiện đại. Có thể nói đó là yếu tố cốt lõi làm nên sự sống còn của mỗi quốc gia. Vậy hiền tài chính là phần cốt lõi, thực chất ban đầu để làm nên sự sống còn và phát triển của quốc gia.

Quốc gia có hiền tài và biết sử dụng hiền tài thì sẽ phát triển vững mạnh. Thịnh suy của mỗi triều đại, quốc gia không thể tách rời khỏi yếu tố con người. những triều đại Trung Hoa như nhà Hán có Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà giúp sức đã hạ gục Hạng Vũ thống nhất Trung Hoa. Ở nước ta cũng có triều Trần có những danh tướng như Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, đã khắc ghi vào những trang sử vẻ vang của dân tộc qua 3 lần chống Nguyên Mông. Nhưng tới triều Hồ rồi triều Nguyễn mặc dù đã phấn đấu hết sức nhưng vẫn không đưa quốc gia thoát khỏi nạn ngoại xâm vì không có nhân tài phò trợ.

Lịch sử nhân loại, việc sử dụng người mỗi thời khác nhau tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử, thời thế và vai trò, nhiệm vụ. Người có tài thật là hiếm, cần phải biết tìm, biết trân trọng. Người có học vấn thường có khả năng suy đoán và nhận định tốt hơn người thường. Thời phong kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ tổ quốc và xây dựng quốc gia phát triển hiệu quả hơn nhờ tầng lớp trí thức, hoà đồng với nhân dân, xả thân vì nghiệp lớn. Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi với bản hùng văn lịch sử “Bình Ngô đại cáo” là minh chứng cho sự sáng suốt của những bậc tiền nhân biết chú trọng và sử dụng tri thức trong những cuộc chiến.

cố tri đã dạy: “Quốc gia hưng vong,thất phu hữu trách” tức là một người dân thường ắt cũng phải chịu trách nhiệm trước sự hưng vong của quốc gia. Trí thức lại càng phải hơn thế! Ngày nay, tiếp nối truyền thống của tổ tông, trí thức cần được rèn luyện để trở thành nhân tài có trách nhiệm cống hiến tài năng vào cho quốc gia. Tri thức thời nay là tầng lớp tinh hoa của xã hội, tạo ra những trị giá ý thức, tôn trọng chân lý và được nâng lên tầm cao mới của xã hội và thích hợp với thời đại toàn cầu hóa của nền tri thức nước nhà. Vậy nên, những vua thời xưa đã hết sức để khuyến khích, kiếm tìm nhân tài. Ban mũ áo, tước vị, cho vinh quy bái tổ và khắc lên đá để lưu danh nghìn đời. Văn Miếu Quốc Tử Giám là một minh chứng sống động cho điều ấy.

Chúng ta tin vào sức năng động tự thân của dân tộc, sự sáng tạo và dẻo dai của giới trí thức như ngọn lửa bùng lên để những người có trọng trách biết suy nghĩ, trọng dụng lực lượng trí thức,nhất là những bậc trí thức lão thành có thương hiệu cho tiến trình xây dựng quốc gia. Ở những nước tiên tiến, họ bỏ tiền mua bảo hiểm y tế, nhà cửa, kể cả đôi chân tuyển thủ hay vòng một của người đẹp. Còn đối với quốc gia thì càng có rất nhiều nhân tài thì quốc gia ấy càng tỏa sáng. Nước ta tuy là một nước nhỏ nhưng cũng không ít nhân tài. Người Việt có mặt ở những ngành khoa học và đứng đầu ở những nơi mang tầm cỡ toàn cầu.

Ngẫm về tình hình hiện tại của quốc gia, dễ dàng nhận thấy những nhân tài hay nhận đc ưu đãi là du học, nhưng liệu bao nhiêu trong số họ sẽ trở về nước, hay sẽ ở lại cống hiến cho nước sở tại? Nhìn xa hơn, hiền tài phải được hướng tới lớp người trẻ tuổi bởi vì họ mới là lớp người có khả năng tiếp thu cái mới,sáng tạo hơn. Cần tạo môi trường cho họ làm việc,phát huy năng lực, đãi ngộ xứng đáng cho thành tựu họ mang lại. Để chiêu dụ nhân tài, những nơi thường đưa ra những tiêu chí về học hàm học vị, nhưng thực chất của những học hàm học vị đó ra sao thì không ai kiểm chứng được. Họ vấp phải một môi trường làm việc cũ kỹ, không phát huy được năng lực của bản thân. Họ không muốn bị biến thành một công chức sáng vác ô đi, tối vác về. Họ lại ra đi! Vì tiền nong, chức vụ không phải là cái mà nhân tài bận tâm.nếu như chúng ta hiểu một cách sâu xa chân lý “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” không cần phải đốt đuốc lên mới thấy được người có thực tài mà chỉ cần có kế sách cụ thể, thực sự trân trọng tài năng, mời gọi nhân tài để rồi khơi dậy họ.

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Đó không chỉ là một triết lí đúng của cố tri mà còn chuẩn xác đối với thời nay. Vì vậy mỗi tư nhân, gia đình, nhà trường cần có giải pháp giáo dục để thế hệ trẻ phát huy hết tiềm năng phục vụ cho quốc gia. Trước kia, bây giờ và sau này hiền tài luôn là nguyên khí của quốc gia, là nguồn tài nguyên và động lực to lớn để quốc gia đi lên. Ngày nay có thể hiểu hiền tài không chỉ là trí thức, mà là tất cả những ai có năng lực và khát vọng cống hiến cho quốc gia, cho dân tộc!

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 7

Tư tưởng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” của Thân Nhân Trung không chỉ có trị giá đối với thệ hệ ông đang sống mà cho tới ngày nay nó vẫn giữ nguyên ý nghĩa. Đối với một quốc gia, muốn phát triển giàu mạnh vững bền thì yếu tố con người vô cùng cần thiết. Cần phải tìm người giỏi và giáo dục người giỏi để họ có thể gánh trên vai trọng trách nước nhà.

“Hiền tài” được hiểu chính là những người tài giỏi, có đức độ, đầu óc sáng tạo và tấm lòng sáng trong có những ý kiến và định hướng đúng đắn cho sự phát triển đi lên của quốc gia. những người tài giỏi sẽ đóng góp công lao không nhỏ trong sự nghiệp xây dựng và phát triền quốc gia.

Thân Nhân Trung từng nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, rồi lên cao, nguyên khí yếu thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Đây chính là một quy luật có từ lâu đời trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Theo ý kiến của ông thì việc coi trọng hiền tài cũng như phát hiện, phát triển hiện tài để ‘đầu tư” là điều vô cùng cần thiết, không thể lơ là đối với những người lãnh đạo. Người tài đã khó tìm, người hiền tài lại càng khó tìm hơn nữa. Vì hai chữ “hiền tài” đã bao hàm trong nó tài năng và đức độ. điều vô cùng cần thiết của mỗi quốc gia dính là trận trọng và phát triển những người có khả năng đưa quốc gia đi lên vững bền.

Nhật Bản là một quốc gia coi trọng con người, luôn đặt giáo dục con người lên hàng đầu. Vì từ thời kỳ Thiên Hoàng Minh Trị, tự tưởng này đã được xem trọng. Bởi xem trọng con người, xem trọng người tài sẽ là đòn bẩy tạo điều kiện cho quốc gia đó có thể phát triển vững bền. Nhật Bản trong những thập kỉ qua đã khẳng định mình là quốc gia vững mạnh trên tất cả mọi mặt, bởi họ luôn lấy hiền tài làm trọng để phát huy những thế mạnh khác.

Thân Nhân Trung khẳng định “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” không phải không có lý dó. quốc gia ta đã phải trải qua bao nhiêu mất mát, hi sinh vì chiến tranh. Lúc đó nếu như không có những bậc vĩ nhân như Hồ Chí Minh, Nguyễn Trãi, Trần Quốc Tuấn, Lý Thường Kiệt…thì liệu quốc gia ta có được sự vững bền như ngày ngày hôm nay không. Hiền tài là người đủ đức, đủ tài để gánh vác những trọng trách được giao. Đó mới là điều đáng quan tâm hơn hết. Họ sẵn sàng hi sinh lợi ích cả nhân, hi sinh tuổi thanh xuân, hi sinh bản thân mình để sống và cống hiến.

Đó là những người đáng ngưỡng mộ và khâm phục, không những có tài mà còn có tấm lòng nhân ái, vị tha mông mênh.

Ở thời kì nào cũng vậy, nếu như xem hiền tài chính là “nguyên khí”, là trụ cột thì quốc gia đó sẽ có những bước tiến mới. Thân Nhân Trung không chỉ nhấn mạnh khía cạnh ‘coi trọng” mà còn nhấn mạnh việc “phát hiện, phát triển” những người đủ chí và lực để gánh vác những việc trọng đại của quốc gia. Đây chính là tư tưởng tiến bộ, có sức tác động lớn tới với sự sinh tồn của quốc gia đó.

Có một thực tế đáng buồn ngày nay chính là nhiều người tài không có môi trường để phát triển. Họ không được tạo thời cơ, điều kiện, không có định hướng cụ thể nên tài năng bị thui chột là điều không hiếm có. Bởi vậy, những cơ quan chức năng cần nhanh chóng phát hiện ra những người có đủ tư cách tương tự để huấn luyện và tạo cho họ thời cơ để khẳng định mình. Đây là một trong những cách trọng dụng người tài có tính nhân văn sâu sắc. Và đây cũng chính là cách níu giữ nhân tài mà quốc gia ta cần vận dụng. Như thế mới không để lãng phí nguồn tài nguyên nhân lực.

tương tự, đối với một quốc gia thì việc xem trọng hiền tài chính là việc vô cùng quan trọng và cần thiết để có thể tạo nên sự chuyển mình mạnh mẽ. Hiền tài sẽ là những người cống hiến, vạch đường đi để cho nhân dân ta có thể tiến bước đi lên.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 8

“ Hiền ta là nguyên khí quốc gia” một chân lý mà mỗi quốc gia muốn phát triển đều phải nhớ và làm theo. Vậy thế nào là “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” và vì sao hiền tài lại là nguyên khí quốc gia, ngày hôm nay chúng ta hãy thử phân tích về chân lý này và mối quan hệ của nó với vận mệnh nước nhà.

Xem Thêm : Lý do nào khiến Ăng-đrô-mác không muốn Héc-to ra trận?

Trước tiên, ta sẽ phân tích nghĩa của câu “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. “Hiền tài” là người tài cao, học rộng và có đạo đức. “Nguyên khí” là chất làm nên sự sống còn và phát triển của quốc gia, xã hội. Vậy “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” tức là: Hiền tài, chính là phần cốt lõi, chất ban đầu để làm nên sự sống còn và phát triển của quốc gia. Quốc gia có rất nhiều hiền tài và biết sử dụng hiền tài thì sẽ phát triển vững mạnh.

Vậy thì vì sao hiền tài lại là nguyên khí của quốc gia? Trong mỗi quốc gia nhất thiết phải có một phòng ban lãnh đạo, điều hành quốc gia, nếu như như quốc gia mà những người điều hành toàn là những kẻ ngu dốt, không học vấn, không đạo đức thì có phải chăng là đã huỷ diệt quốc gia hay không, dẫn chứng cụ thể cho điều này ta có thể lấy về chính quyền Khơ-me đỏ từ năm 1975 tới năm 1979 chúng lãnh đạo vương quốc Campuchia và đã đưa quốc gia tới thảm hoạ diệt chủng, gây nên bao nỗi đau và sự căm hờn cho quốc gia ta và người dân Campuchia, từ đó ta thấy nếu như quốc gia mà thiếu một hiền tài mà trụ cột thì chắc chắn quốc gia sẽ diệt vong, xã hội ắt sẽ loạn.

Vậy trong quốc gia đã có người lãnh đạo thì họ sẽ phải lãnh đạo ai, họ sẽ phải lãnh đạo những hiền tài khác, nếu như như người mà họ lãnh đạo là những con người ngu tối, đầu óc không sáng suốt, không biết sáng tạo thì ko phải là “ đổ nước vào cái xô thủng “ sao, vậy nên trong mỗi quốc gia cần có những hiền tài để xây dựng và phát triển quốc gia theo đúng đường lối của người lãnh đạo, họ phải biết tự sáng tạo ra những ý kiến mới, tạo ra những phát minh mới, ví như những quốc gia như Mỹ, Nga, Anh, Pháp vì sao họ có thể phát triển đi trước những quốc gia khác, chính là nhờ họ có những nhà khoa học, chưng học lỗi lạc đã tạo ra những kì tích trong khoa học kĩ thuật, đưa quốc gia phát triển lên một tầm cao mới. Hay ngay ở nước ta, đại tướng Võ Nguyên Giáp theo đường lối chỉ đạo của chưng Hồ vĩ đại đã tạo nên một trận Điện Biên Phủ làm trấn động năm châu, khiến cho người Pháp phải khăn gói về nước. Từ đó mới thấy tầm quan trọng của hiền tài trong công cuộc đổi mới quốc gia.

Không những thế, chúng ta còn phải làm cho những người nông dân thông thường cũng có thể trở thành hiền tài, quốc gia nào cũng cần có những người dân thông minh và biết sáng tạo, đổi mới để đem lại lợi ích cho chính mình. Nhà nước ta đang chủ trương giáo dục, chính là để tăng dân trí, nuôi dưỡng phát triển những hiền tài trong tương lai. Ở những quốc gia phát triển, khi muốn ban hành những điều luật quan trọng, tác động trực tiếp tới đời sống người dân thì họ đều phải đưa ra để trưng cầu dân ý để xem xét ý kiến của những người dân. Hay là những nhà khoa học khi đưa ra bất kì phát minh hay sáng kiến nào thì điều phải nghĩ tới có thể ứng dụng được cho người dân của họ hay không. quốc gia có nền dân trí cao, thì sẽ là động lực để xúc tiến để phát triển những ngành kinh tế, vì công nghệ ngày càng đổi mới mà người dân không đi theo kịp thì sẽ bị tuột hậu và thua thiệt. Có những người nông dân Việt Nam, họ không cần chờ tới người khác mà họ đã tự phát minh những phương tiện của riêng mình để phục vụ cho lao động, đó cũng chính là những hiền tài cho quốc gia.

Hay trong giáo dục, những nhân tài trẻ tuổi đã làm rạng danh Việt Nam trong những cuộc thi lớn, thì đó cũng chính là hiền tài cuộc quốc gia. Vận mệnh quốc gia sao này sẽ phải ủy quyền những con người trẻ tuổi và tài năng như thế để đưa dân tộc hồi sinh và phát triển.

Qua những ý trên ta có thể thấy, hiền tài chính là nguyên khí của quốc gia, quốc gia mà mỗi người dân là một hiền tài thì quốc gia sẽ không ngừng phát triển, quốc gia mà mỗi nhà lãnh đạo là một hiền tài thì vận mệnh nước nhà sẽ vững trải, xã hội sẽ ổn định. bởi vậy nên chúng ta phải hết sức phát huy khả năng và nuôi dưỡng những hiền tài, phải tạo điều kiện để họ thể hiện chính mình phục vụ cho quốc gia.

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia” là chân lý khả định vai trò quan trọng của hiền tài đối với vận mệnh dân tộc. Và mỗi chúng ta, những con dân đất việt phải có nhiệm vụ cống hiến sức lực của mình để phục vụ quốc gia, dân tộc, nhân dân vì chúng ta chính là nguồn nguyên khí của quốc gia.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 9

Thân Nhân Trung (1418 – 1499) tên tự là Hậu Phủ, người xã Yên Ninh, huyện Yên Dũng, nay thuộc tỉnh Bắc Giang, ông đỗ tiến sĩ năm 1469, từng là thành viên trong Hội Tao đàn do vua Lê Thánh Tông sáng lập. Là người có tài văn học nên năm 1484, ông đã được nhà vua tin cậy ủy quyền soạn thảo Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba. Văn bản này giữ vai trò quan trọng như lời Tựa chung cho cả 82 tấm bia tiến sĩ ở nhà bia Văn Miếu, Hà Nội. Bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia trích từ bài kí này, trong đó có câu: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp.

Vấn đề tác giả nêu ra trong đoạn trích là khẳng định vai trò, vị trí của những bậc hiền tài đối với quốc gia. Đây là một nhận định sáng suốt và đúng đắn, được chiêm nghiệm và rút ra từ thực tế thăng trầm của lịch sử nước ta, chứng tỏ người viết có tầm nhìn xa trông rộng.
Vậy hiền tài là gì và vì sao hiền tài lại là nguyên khí của quốc gia ?

Thế nào là hiền tài? Hiểu theo nghĩa hiển ngôn của từng từ thì hiền là ăn ở tốt với mọi người (phải đạo), tận tình làm trọn trách nhiệm của mình đối với người khác; tài là khả năng đặc biệt làm một việc nào đó. Hiểu rộng ra theo nghĩa hàm ngôn thì hiền tài là người tài cao, học rộng và có đạo đức, một lòng một dạ vì lợi ích của nhân dân, Tổ quốc.

Thế nào là nguyên khí? Nguyên khí là khí ban đầu tạo ra sự sống của vạn vật. Hiểu rộng ra, nguyên khí là yếu tố quyết định sự sống còn và phát triển của xã hội, quốc gia.

Vậy vì sao hiền tài là nguyên khí của quốc gia ?

Hiền tài là sự kết tụ tinh hoa của đất trời, của khí thiêng sông núi, của truyền thống dân tộc. Người xưa đã nói: Địa linh sinh nhân kiệt, nên hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

những người được coi là hiền tài có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự hưng vong của một triều đại nói riêng và của quốc gia nói chung. Có thể lấy rất nhiều ví dụ trong lịch sử nước ta để chứng minh cho điều đó như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Giang Văn Minh, Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huệ… ở những thế kỉ trước và nhân vật nổi tiếng của thế kỉ XX là chủ toạ Hồ Chí Minh vĩ đại – người đã lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mệnh phóng thích dân tộc thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, phong kiến, giành lại chủ quyền độc lập, tự do cho quốc gia và khẳng định tên tuổi Việt Nam trước toàn toàn cầu.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, có một số thân sĩ, trí thức được huấn luyện ở nước ngoài vì cảm phục đức hi sinh cao cả của chủ toạ Hồ Chí Minh nên đã sẵn sàng từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý, trở về nước trực tiếp đóng góp tài trí của mình cho sự nghiệp kháng chiến. Kĩ sư Trần Đại Nghĩa, người chế tạo ra nhiều thứ vũ khí lợi hại cho kháng chiến. chưng sĩ Phạm Ngọc Thạch, chưng sĩ Tôn Thất Tùng, chưng sĩ Đặng Văn Ngữ… đã bỏ ra bao công sức nghiên cứu, tìm tòi và chế tạo ra những thứ thuốc kháng sinh quý giá để cứu chữa cho thương binh, quân nhân trên chiến trường. nông gia học Lương Định Của suốt đời trằn trọc, nghiên cứu cải tạo ra những giống lúa mới có khả năng chống sâu rầy và cho năng suất cao để cải thiện cuộc sống nông dân, tăng nguồn lương thực tiếp tế cho chiến trường miền Nam đánh Mĩ… Đó là gương sáng của những bậc hiền tài một lòng một dạ vì quyền lợi chung của nhân dân và Tổ quốc.

Như đã nói ở trên, hiền tài có vai trò quan trọng đối với sự hưng vong của quốc gia. Nhưng hiền tài không phải tự nhiên mà có. Ngoài thiên khiếu bẩm sinh, những người tài phải được phát hiện và giáo dục theo một quy củ nghiêm túc để họ nhận thức đúng đắn về mục đích học tập là rèn luyện đạo lí làm người, để bổi dưỡng lòng tương thân, tương ái và hiểu rõ trách nhiệm của bản thân đối với xã hội. Ngày xưa, theo quan niệm của Khổng giáo thì việc giáo dục con người phải lấy đức làm gốc (đức giả bản dã), còn tài là phần ngọn (tài giả mạt dã). Nguyễn Trãi cũng đặt đức lên trên tài: Tài thì kém đức một vài phân. Đại thi hào Nguyễn Du cũng khẳng định: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Quan niệm đúng đắn ấy còn giữ nguyên trị giá cho tới tận ngày nay. chưng Hồ trong một lần nói chuyện với học sinh đã nhấn mạnh: Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.

Hiền tài trước hết phải là người có đức. Trong chế độ phong kiến trước đây thì đức chính là lòng trung quân, ái quốc. Mọi suy nghĩ và hành động của những bậc hiền tài đều không ngoài bốn chữ đó. Những mưu cầu, toan tính vun vén cho lợi ích tư nhân không thể tác động và làm tác động tới lí tưởng cao quý giúp vua, giúp nước của họ. Xét theo chuẩn mực đạo đức Nho giáo thì họ xứng đáng là những bậc chính nhân quân tử: phú quý bất năng dâm, keo kiết bất năng di, uy vũ bất năng khuất (sang giàu không làm thay đổi, nghèo túng không thể lay chuyển, bạo lực không thể khuất phục). Hiền tài là những tấm gương quả cảm, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Mạc Đĩnh Chi, trạng nguyên đời Trần được triều đình cử đi sứ phương Bắc đã tỏ rõ cho vua quan nhà Minh biết chí khí hiên ngang của người quân tử bằng tài ứng đối hùng biện của mình. Giang Văn Minh sẵn sàng hi sinh tính mệnh để bảo vệ danh dự của vua Nam và quốc thể nước Nam, xứng đáng là sứ thần Đại Việt. Không thể kể hết tên tuổi những hiền tài của nước Nam, đúng như Nguyễn Trãi từng viết: Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có (Bình Ngô đại cáo).

Tuy nhiên, lịch sử mấy nghìn năm của quốc gia ta có rất nhiều giai đoạn biến đổi thăng trầm, về đại cục, lịch sử luôn phát triển theo hướng đi lên; nhưng có lúc lịch sử gặp giai đoạn suy thoái, bi thương. Vận mệnh dân tộc, số phận quốc gia đặt lên vai hiền tài, nhưng vì nhiều lí do, họ đã không đảm đương được trọng trách mà quốc gia uỷ thác. An Dương Vương oai hùng với thành Cổ Loa kiên cố và nỏ thần kiến hiệu, nhưng vì chủ quan khinh địch nên đã lâm vào cảnh nước mất nhà tan. Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống chỉ vì thèm muốn lợi danh mà hèn nhát cam tâm làm tay sai cho quân xâm lược phương Bắc. Đó là lúc nguyên khí suy, thế nước yếu rồi xuống thấp.

Điều quan trọng nhất là hiền tài thì phải thực sự có tài. Có tài kinh bang tế thế thì mới nghĩ ra được những kế sách sáng suốt giúp vua và triều đình thống trị quốc gia. Tài năng quân sự lỗi lạc của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã góp phần to lớn vào chiến công lừng lẫy của quân dân nhà Trần ba lần đánh thắng quân xậm lược Mông – Nguyên. Tài năng quân sự, ngoại giao xuất sắc của Nguyễn Trãi khiến ông trở thành vị quân sư số một của Lê Lợi, có vai trò quyết định thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, quét sạch mười vạn giặc Minh ra khỏi cương vực nước ta.

Một gương sáng hiền tài đã trở thành thần tượng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà mở rộng ra phạm vi toàn cầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tên tuổi của ông gắn liền với hai cuộc kháng chiến đau thương và oanh liệt của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược, ông đã làm vẻ vang cho lịch sử và truyền thống quật cường, hào hùng của quốc gia. Nhắc tới ông, nhân dân ta và bè bạn năm châu yêu mến, tự hào; còn kẻ chiến bại cũng phải nghiêng mình kính phục.

Xưa nay, những triều đại phong kiến đều quan tâm tới việc mở trường học và tổ chức thi cử để tuyển lựa chọn nhân tài giúp nước.

Sau khi quét sạch quân xâm lược nhà Minh ra khỏi cương vực, mở ra nền thái bình muôn thuở, vua Lê Thái Tổ đã tỏ ra đặc biệt quan tâm tới vấn đề mở rộng và tăng nền giáo dục của nước nhà, trong đó có việc phát hiện và huấn luyện nhân tài nhằm phục vụ cho mục đích chấn hưng quốc gia. những triều đại trước, việc tuyển lựa chọn người ra làm quan chủ yếu thông qua trục đường tiến cử, nhiệm cử…, nhưng tới thời Lê thì chủ yếu là thông qua khoa cử để lựa chọn người tài giỏi giúp vua trị nước. Vua Lê Thánh Tông viết trong chiếu dụ như sau: Muốn có nhân tài, trước hết phải lựa chọn người có học. Phải lựa chọn người có học thì thi cử là đầu. Nước ta, từ khi trải qua binh lửa, nhân tài ít như lá mùa thu, tuấn sĩ thưa như sao buổi sáng. Thái Tổ ta mới dựng nước đã lập ngay trường học, nhưng lúc mới mở rộng chưa đặt khoa thi. Ta noi theo chỉ tiên vương, muốn cầu được hiền tài để thỏa lòng mong đợi. Trong sắc dụ của mình, vua Lê Hiển Tông cũng khẳng định: những bậc thánh đế minh vương, chẳng ai không lấy việc gây dựng người tài, kén lựa chọn kẻ sĩ, bồi đắp nguyên khí làm việc trước hết.

Người có tài, có đức giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng quốc gia ngày nay thế nào?

nếu như hiểu theo nghĩa hiền tài là người tốt, có khả năng đặc biệt làm một việc nào đó thì hiền tài ngày nay trong ngành nào cũng có. Đó là những người vượt khó để thành đạt; là những doanh nhân có tâm, có tài, sản xuất ra những hàng hoá chất lượng cao đem lại lợi ích to lớn cho nhân dân, quốc gia; là những nhà khoa học có rất nhiều dự án hữu ích, thiết thực; là những vị lãnh đạo có tư tưởng đổi mới, hoạch định những chính sách thích hợp, khả thi để xúc tiến nền kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội ngày càng phát triển. Tất cả hợp lại tạo nên nguyên khí quốc gia.

Hiền tài không phải tự nhiên mà có. Ngoài năng khiếu bẩm sinh mang tính chất truyền thống của gia đình, dòng tộc, quê hương… thì người tài phải được phát hiện, giáo dục, huấn luyện một cách nghiêm túc và bài bản để thực sự trở thành hiền tài của quốc gia.

Nhân tài của một quốc gia không nhiều nhưng cũng không quá hiếm hoi. Để có được hiền tài, Nhà nước phải có chính sách đảo tạo và sử dụng đúng đắn cùng chính sách đãi ngộ trân trọng, hợp lí. Tạo điều kiện thuận lợi để hiền tài phát triển tài năng và cống hiến có hiệu quả nhất cho sự nghiệp phát triển quốc gia giàu mạnh.

Nhận định của Thân Nhân Trung đúng với mọi quốc gia và mọi thời đại. Học sinh chúng ta cần phải rèn luyện, phấn đấu không ngừng để trở thành hiền tài, góp phần xây dựng quốc gia giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, để có thể sánh vai với những cường quốc năm châu như chưng Hổ hằng mong ước.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 10

Được khẳng định từ thế kỉ XV trong tác phẩm Bồi kí để danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bão thứ ha, tư tưởng Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung là một trong những tư tường lớn đã được kiểm nghiệm qua nhiều giai đoạn lịch sử của quốc gia. Trong sự phát triển mạnh mẽ và cũng hết sức phức tạp ngày nay, tư tưởng này đang được tiếp tục đề cao chú trọng.

Tư tưởng của Thân Nhân Trung nghĩ rằng : Hiền tài là nguyên khí quốc gia, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yểu, rồi xuống thấp”. Chính vì vậy “bồi dưỡng nhân tài, kén lựa chọn kẻ sĩ. vun trồng nguyên khí” là việc trước hết đã, đang và cần phải làm cùa nhà nước. tương tự, theo Thân Nhân Trung hiền tài có vai trò quyết định” tới sự thịnh – suy của quốc gia, hiền tài chính là khí chất làm nên sự sống còn sự phát triển của xã hội, của quốc gia; một nước muốn mạnh thì điều trước tiên cần quan tâm chú trọng là bổi dượng, chú tâm, đãi ngộ hiền tài.

Có thể nói tư tuởng của Thân Nhân Trung là một tư tưởng hết sức đúng đắn và tiến bộ. Hiền tài là những người tài cao, học rộng lại đức độ, đó là những ngựời vừa có trí tuệ lại vừa có tư cách đáng trọng. Tài năng, trí tuệ sáng suốt của họ sẽ tạo nên những trị giá, những thành tựu, những sản phẩm mới cho con người, cho xã hộ, góp phần cài biến xã hội, xúc tiến xã hội vận động, họ là những người có khả năng suy đoán, suy xét thấu đáo, có tầm nhìn xa trông rộng cho nên có thể vạch ra nhưng đường hướng quan trọng cần thiết cho sự vận động của xã hội trong tương lai… Để xây đựng một quốc gia giàu mạnh về mọi mặt cần thiết phải có những con người tài giỏi, những tư nhân có năng lực, có tài, có trí tuệ thực sự. kế bên tài năng thì dức độ, tư cách cùa họ sẽ giúp họ biết sử dụng cái tài của mình vào những mục đích tốt đẹp, họ sẽ tạo ra những trị giá hữu ích cho cuộc sống. Trong một xã hội không thiếu những tư nhân có tài, nhưng trong sô’ đó không phải ai cũng là hiền tài. có rất nhiều người có tài nhưng lại thiếu đức. những người này thường đem cái tài của mình phục vụ cho lợi ích tư nhân; không quan tâm, thậm chí đi trái lại lợi ích chung của cộng đồng. Trái lại, người hiền tài bao giờ cũng biết suy nghĩ vể lợi ích chung của cộng đồng, về những trị giá chân chính thực thụ cho con người. Chính vì vậy những gì mà họ tạo ra bao giờ cũng đem lại những tác động tích cực, lành mạnh cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của cả xã hội. Xã hội, quốc gia ngày càng đi lên, ngày càng hưng thịnh là nhờ sự đóng góp-của hiền tài. tương tự, rõ ràng hiền tài chính là “nguyên khí” của một quốc gia, có vai trò quyết định tới sự thịnh – suy của một quốc gia. Một xã hội, một quốc gia càng nhiều hiền tài thì càng phát triển nhanh chóng ; một xã hội, một quốc gia mà thiếu vắng hiền tài thì sẽ rất khó vững bền, khó có được sự ổn định và phát triển.

Tư tưởng của Thân Nhân Trung không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của hiền tài đối với quốc gia mà còn nêu cao sự cần thiết củạ việc quan tâm tới hiền tài. quốc gia nào, xã hội nào cũng có những người hiền tài, tuy nhiên những người hiền tài đó có được phát huy hết những gì mà họ có hay không còn phụ thuộc vào việc có trọng dụng hay không và trọng dụng của xã hôi, quốc gia đó. Một quốc gia, một xã hội muốn phát triển cần thiết phải chăm lo bồi dưỡng, trọng dụng hiền tài, cần trân trọng, tôn vinh những cống hiến, những đóng góp của họ, cần bào vệ, phát huy những trị giá quý giá mà họ đã đem lai cho xã hội, cần tạo môt mối trường trong sạch, lành mạnh để người hiền tài được phát huy hết tiềm năng, Cần có sự quan tâm đãi ngộ kịp thời, đúng đắn với người hiền tại. Có tương tự thì hiền tài mới ngày càng dổi dào và quốc gia mới thực sự hưng thịnh. Nqược lại, có hiền tài mà không trọng dụng, thậm chí còn tìm cách huý hoại thì hiến tài cạn kiệt, không còn những người tài đức đế kiến tạo quốc gia, xã hội lâm vào suy thoái. ,trì trệ, quốc gia tất sẽ đi tới chỗ suy yếu. Điều này đã được minh chứng rõ ràng bằng lịch sử. Chăm lo tới hiền tài là việc cần làm trước hết không chỉ của riêng một nhà nước, một xã hội nào mà là của mọi nhà nước, mọi xã hội.

Hiền tài không phải tự nhiên mà có. những người hiền tài có một phần nhỏ là tư chất bẩm sinh, phần lớn là nhờ tu dưỡng, rèn luyện không ngừng trong quá trình sống. vì vậy, bản thân những người tài đức trong xã hội phải luôn thấy rõ vai trò của mình đối với quốc gia, từ đó mà liên tục trau dồi bản than, phát huy tận độ mọi tiềm năng, cống hiến hết mình cho xã hội trong mọi hoàn cảnh, xứng đáng với sự kì vọng của cộng đổng. Mọi tư nhân trong xã hội phải luôn ra sức rèn luyện, phấn đấu để thành người tài đức góp phần xây dựng quốc gia. quốc gia phát triển thì cuộc sống của mỗi tư nhân cũng sẽ được đảm bảo.

Trong bối cảnh hội nhập ngày nay, yêu cầu phát triển quốc gia càng đặt ra một cách bức thiết. Để sánh vai cùng những nước mạnh trong khú vực và trẽn toàn cầu, chúng ta cần có rất nhiều hơn nữa những người tài đức. Chính bởi vậy tư tường của Thân Nhân Trung thêm một lần nữa cần được khẳng định tính đúng đắn và tiến bộ của nó. Đó chính là kim chi nam không chỉ của một thời đại để xây dựng một quốc gia phồn vinh, thịnh vượng thực sự.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 11

Quang Trung – Nguyễn Huệ đã từng nói: “Dựng nước lấy việc học làm đầu. Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”. Dân tộc Việt Nam ta đã hy sinh hơn 1000 năm dựng nước và giữ nước với biết bao nhiêu mất mác và đau thương nhất là những tấm lưng anh hùng chìa ra làm bia, làm thành bảo vệ tới đổ máu vì một lí tưởng cao cả duy nhất: Độc lập dân tộc. Để có được hòa bình ngày ngày hôm nay, không chỉ nhờ vào sức mạnh kết đoàn mà còn nhờ vào những khối óc tài hoa với một lòng nồng nàn yêu nước. Về vấn đề những con người tài giỏi của dân tộc, Thân Nhân Trung đã nêu trong Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba:

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp”. Ý kiến của ông dù qua bao thế kỉ, bao thời đại vẫn luôn giữ trị giá nguyên vẹn.

Tôi nghĩ rằng tư tưởng của Thân Nhân Trung là một tư tưởng hết sức đúng đắn và tiến bộ. Hiền tài là những người tài cao, học rộng lại đức độ, đó là những người vừa có trí tuệ lại vừa có tư cách đáng trọng. Tài năng, trí tuệ sáng suốt của họ sẽ tạo nên những trị giá, những thành tựu, những sản phẩm mới cho con người, cho xã hội, góp phần xúc tiến xã hội phát triển. Vì sao? Bởi vì họ là những con người vốn mang trong mình vốn tri thức thấu đáo, có khả năng làm chủ cuộc sống và vạch ra cho xã hội những bước đi quan trọng để phát triển. Một quốc gia mà muốn trở nên giàu mạnh về nhiều mặt thì cần những người gỏi giang, những tư nhân có thực lực thực sự và có tư cách, đạo đức tốt. Tuy nhiên trong số đó không phải ai cũng là hiền tài. có rất nhiều người có tài nhưng lại thiếu đức. những người này dụng tại vì lợi ích tư nhân chứ không nghĩ tới lợi ích chung của cộng đồng. Còn người hiền tài thực sự bao giờ cũng nghĩ cho cái chung của cộng đồng, về sự phát triển vững mạnh của xa hội. Chính vì vậy những gì mà họ tạo ra bao giờ cũng đem lại những tác động tích cực, lành mạnh cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của cả xã hội. Không ai có thể phụ nhận được tầm quan trọng của hiền tài đối với sự phát triển của một quốc gia. tương tự, rõ ràng hiền tài chính là “nguyên khí” của một quốc gia, có vai trò quyết định tới sự thịnh – suy của một quốc gia. Một xã hội, một quốc gia càng nhiều hiền tài thì càng phát triển nhanh chóng ; một xã hội, một quốc gia mà thiếu vắng hiền tài thì sẽ rất khó vững bền, khó có được sự ổn định và phát triển.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 12

Vị vua anh minh, lỗi lạc của dân tộc – Nguyễn Huệ – đã từng nói: “Dựng nước lấy việc học làm đầu. Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc.” Cùng chung ý kiến với Nguyễn Huệ là Mặc Tự. Ông khẳng định: “quốc gia có rất nhiều người tài, quốc gia càng hưng thịnh”. Không phải tự nhiên những vị vua, những vị quan của quốc gia trong những triều đại đi trước đưa ra lời khẳng định này, mà bởi vì nó chính là một yếu tố cốt lõi trong quá trình dựng nước, giữ nước họ đúc kết ra được. Mặc dù còn có rất nhiều người cùng chung ý kiến với Mặc Tự và Nguyễn Huệ nhưng khi nhắc tới vấn đề này, ta không thể không nói tới Trần Nhân Tông với câu nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Lời tóm tắt vừa hay, vừa rõ ràng, thâu đủ những ý từ những người đi trước. Thông từ đó mà ta có thể hiểu rõ được tầm quan trọng của người tài đối với mỗi quốc gia, dân tộc.

Trước hết, ta cần phải làm rõ khái niệm “hiền tài”. Hiền tài tức là gì? Hiền tức là người hiền lương, người sống có đạo đức, lương thiện. Còn tài ở đây là tài năng, là phẩm chất, là cốt cách của một con người. Vậy nên ta có thể suy ra được hiền tài là những người vừa có tài, vừa có đức như triết lí của Hồ chủ toạ. Họ là những người có phẩm chất cao quý, có một sự tinh nhanh, tinh thông, nhìn nhận và đóng góp cho quốc gia một cách trung thành, yêu nước thương dân. vì sao Trần Nhân Tông lại nghĩ rằng: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”? Nguyên khí là những sức mạnh tiềm tàng, những sức mạnh ẩn sâu bên trong của quốc gia để tạo điều kiện cho quốc gia trở nên hưng thịnh, sánh vai với những cường quốc năm châu. những người hiền tài là yếu tố quan trọng để thực hiện sứ mệnh ấy.

Nhìn lại cả một thời kì lịch sử chói lọi của dân tộc với quá trình dựng nước và giữ nước màu nghìn năm, ta có thể khẳng định rằng câu nói của Trần Nhân Tông là hoàn toàn đúng đắn. những vị vua như Quang Trung, Lí Thái Tổ, Lê Lợi đều là những minh chứng rõ ràng và thuyết phục cho việc sử dụng tài năng, sự mưu trí và đức độ khi trị vì quốc gia. những người như họ đã góp phần làm nên sự độc lập và phát triển của nước ta trong những thời kì đó. Nhưng không chỉ có những người đứng đầu quốc gia mới là những người tài giỏi, ta thấy được ở cấp bậc thấp hơn đó là những vị tướng quân trong triều đình, họ còn góp một phần không nhỏ trong việc bảo vệ quốc gia. Tiêu biểu có thể kể tới như: Lí Thường Kiệt – người trước hết đem quân sang Bắc phạt – hay Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng xuất sắc nhất trong lịch sử Việt Nam….. Chính bởi vì có sự hiện diện của họ mà ta mới được như ngày ngày hôm nay.

Tạm gác lại cái nhìn về lịch sử, ta phóng tầm mắt tới hiện tại, Đảng và nhà nước ta vẫn đang nỗ lực không ngừng vì một Việt Nam phát triển, một quốc gia đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chân lí: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia vẫn luôn là yếu tố tiên phong để phát triển quốc gia. Hằng năm, chúng ta tổ chức biết bao nhiêu cuộc thi để kiếm tìm những người tài giỏi, tạo thời cơ cho họ thể hiện tài năng và phát triển bản thân như: Cuộc thi sáng tạo robocon, thi đấu những giải đấu toán học quốc tế, chương trình Đường lên đỉnh Olympia….. Nhà nước luôn chú trọng vào việc phát triển tài năng, phát triển và đầu tư vào giáo dục. Nhưng song song cùng với quá trình đi lên này vẫn còn không ít những người tài giỏi đã sang nước ngoài học tập, sinh sống và không quay trở về quê hương nữa. Họ được quốc gia tạo điều kiện để tăng khả năng, để ra nước ngoài học tập ấy vậy mà khi ở trong một môi trường tốt, họ không còn muốn trở về quê hương để cống hiến nữa.

Dù toàn cầu ngày ngày hôm nay và ngày mai có xoay chuyển và diễn biến phức tạp thì những người hiền tài vẫn sẽ là nhân tố quan trọng trong những hoàn cảnh ấy. Vậy nên, mỗi chúng ta cần không ngừng học tập, trau dồi và tăng vốn hiểu biết của bản thân để trở thành một người có ích cho xã hội, khiến cho quốc gia đi lên, ngày càng giàu mạnh.

Nghị luận Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Mẫu 13

Người hiền tài trước hết phải là người có trí thông minh và niềm khát vọng. Hai yếu tố đó giúp họ vượt qua những trở ngại trở ngại để theo đuổi đúng nghề nghiệp mà mình yêu thích. Người hiền tài thường biểu hiện sự ham mê tới cháy bỏng trong công việc, không sợ thất bại, biết cách chấp nhận sự rủi ro, tìm mọi phương cách làm cho công việc mang lại hiệu quả cao nhất.

Có những người tài chỉ tập trưng đi sâu vào trong một ngành chuyên môn, còn những ngành khác anh ta tỏ ra léng phéng, ngu ngơ, vụng trộm về. những người này nếu như được giao làm quản lý thường hay vấp váp. Lại có những người tài ngoài khả năng chuyên môn của mình, còn quan tâm nghiên cứu nhiều ngành liên quan và không ít người thể hiện sự giỏi giang trên nhiều ngành. Người tài loại này nếu như được giao làm quản lý sẽ rất năng động và thành công.

Người hiền tài thường có phong cách sống độc lập, rất sợ đánh rơi mình. Trong những cuộc họp, anh ta không nói dựa, không nói leo, không a tòng mà chỉ nói đúng những điều mình nghĩ mặc dù điều đó chưa hẳn đã là chân lý. Anh ta có thể dám làm những việc mà anh ta cho là đúng, hữu ích mặc dù chưa có sự nhất trí của số đông. tương tự cái sự giữ được bản sắc, không tự đánh rơi mình côn bao hàm cả lòng qủa cảm nữa.

Người hiền tài có khả năng nắm bắt dự đoán những diễn biến của thời đại, của xã hội mà anh ta đang sống và trong tương lai. nếu như sống trong xã hội chậm phát triển, có những việc anh ta làm chưa chắc đã được thừa nhận ngay, thậm chí anh ta sẽ phải làm việc trong thầm lặng, đơn chiếc, khắc khoải. Có khi dự án, dự án, tác phẩm của anh ta chỉ được thừa nhận khi anh ta đã từ giã toàn cầu. Đã biết trước số phận là thế, anh ta văn không bỏ cuộc.

Người hiền tài cũng có những nhu cầu sinh tồn như mọi người, nhưng chỉ thu giãn những gì tương xứng với công súc của mình làm ra, không tham lam vụ lợi, không lấn sân, chiếm chỗ của người khác một cách thô thiển, không kiếm tìm ô dù dựa dẫm, “cửa sau”, “của ngỏng”. Họ thành thật với mình, với người, ghét thói hư danh, hợm mình, dối trá.

Người hiền tài không thể không có một tâm hồn trong sáng và lãng mạn. Nhân loại chẳng đã từng có những dự án khoa học vĩ đại, những tác phẩm văn học nghệ thuật bất hủ được làm ra từ một bộ óc có trí tưởng tượng bay bổng và một trái tim nhân hậu đó sao? Xin đừng nghĩ chỉ có những người hoạt động khoa học xã hội mới cần tới những tố chất bay lượn bên trên hiện thực. Những chiếc phi cơ phản lực, phi cơ chở khách, những chiếc ô tô du lịch sang trọng, những chiếc tàu thủy đẹp như những tòa biệt thự nổi trên biển không thể được sản xuất từ những cái đầu trọc phú, mà phải từ những cái đầu lãng mạn, dư thừa trí tưởng tượng.

Người hiền tài thường có tính hí hước. Họ sử dụng tính hí hước để chế nhạo những thói hư tật xấu của người đời và có khi tự giễu cợt chính bản thân mình. Tú Xương từng giễu cợt mình là “phỗng sành” là “dở dở ương ương”, “cao lâu ăn quỵt”, “gái đĩ chơi lường”, Nam Cao tự giễu mình là loại “sống mòn hèn mạt”, có “cái mặt không chơi được”, Nguyễn Khuyến thì giễu mình là hạng người “Mở mồm nói ra gàn bát sách/ Mềm môi chén mãi tít cung thang”, Nguyễn Bính tự giễu mình một cách gián tiếp khi khuyên con gái không nên đi theo cái nghề của mình bởi “nghèo lắm con ơi, bạc lắm con”, Môlie, Xécvăngtét, Gôgôn, Sêkhốp đều là những nhà hí hước bậc thầy.

Người hiền tài có rất nhiều đặc điểm hiện diện thế. Nhưng nhận diện ra người hiền tài và sử dụng được người hiền tài là cả một vấn đề lớn, không đơn thuần chút nào. Bởi trong cuộc sống, người ta dễ nhầm lẫn người chân tài (thực tài) với kẻ hư tài (bất tài). Người tài thường hiện hữu trước đồng loại với tất cả những gì mình có. Kẻ bất tài thường tạo ra một cái vỏ bọc mỹ miều để che đậy sự thấp kém bên trong. Người tài nói thế nào làm thế ấy. Kẻ bất tài sống lập lờ, hai mặt nói rất hay ho nhưng làm rất dở. Khi làm dở thường tìm cách ngụy tạo, đổ lỗi cho người khác. Cấp trên mà bất tài, hư tài thì khó có thể chấp nhận một người chân tài dưới quyền mình, bởi kẻ bất tài thường có tầm nghĩ cạn, tầm nhìn ngắn, có thói ích kỷ, hẹp hòi, đổ kị, khó có thể đồng cảm, đồng điệu, tri kỉ tri kỷ được với người tài. Hơn nữa, nếu như sử dụng người tài, kẻ bất tài thường lo sợ canh cánh một điều rằng, tới một ngày nào đó, người tài sẽ ngồi vào chỗ của họ… Hiện tượng “ố nhân thắng ký” này là một tác nhân kéo lùi bước tiến của lịch sử.

Dung nạp người hiền tài, làm cho họ thăng hoa, tỏa sáng, hiến dâng hết mình để phục vụ quốc gia, phục vụ nhân dân là trách nhiệm và nghĩa vụ không chỉ của những cấp lãnh đạo. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” – câu nói của bậc tiền nhân mãi mãi và luôn luôn đúng.


Hy vọng những mẫu “Nghị luận Hiền tài là nguyên khí của quốc gia hay nhất” trên đây GrabHanoi sẽ mang lại cho các bạn đọc những tham khảo hữu ích. Đừng quên theo dõi GrabHanoi để được liên tục cập nhật những bài văn mẫu mới nhất bạn nhé

Nguồn: https://dacsanlucngan.vn
Danh mục: Văn mẫu lớp 10 KNTT

Related Articles

Back to top button