Lớp 11Văn mẫu lớp 11

Top 5+ bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ từ ấy hay nhất

Cảm nhận bài thư từ ấy của Tố Hữu đem tới dàn ý và 5 bài văn mẫu hay đạt điểm cao của những bạn học sinh giỏi trên cả nước. Thông qua bài cảm nhận về Từ ấy những bạn lớp 11 có thêm nhiều ý tưởng hay, ý đẹp khi làm văn. Đồng thời có thêm vốn từ phong phú khi diễn đạt từ đó tự tin hơn với khả năng viết văn cảm nhận bài thơ.

Bài thư từ ấy là lời tâm nguyện của người thanh niên yêu nước giác ngộ lý tưởng cách mệnh. Nó là tiếng reo mừng, sung sướng của một người thanh niên trẻ khi tìm được đường đi cho mình. Vậy dưới đây là 5 bài cảm nhận Từ ấy hay nhất mà GrabHanoi muốn giới thiệu, mời những bạn cùng đón đọc.

Bạn Đang Xem: Top 5+ bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ từ ấy hay nhất

Dàn ý cảm nhận bài thư từ ấy

a) Mở bài

– Giới thiệu thi sĩ Tố Hữu và bài thư từ ấy.

b) Thân bài

* Tâm trạng vui sướng của nhân vật trữ tình khi bắt gặp lý tưởng cộng sản

– thời khắc “Từ ấy”: là khi Tố Hữu được giác ngộ cách mệnh, được dẫn dắt vào tuyến đường phóng thích dân tộc

– Hình ảnh ẩn dụ: “nắng hạ”, “mặt trời chân lý” => thể hiện niềm vui khi tìm thấy lẽ sống cao đẹp cho thế cục trong buổi đầu tới với cách mệnh

– Từ ngữ: “chói”, “bừng”, “rộn”, “rất đậm” => khẳng định lý tưởng cộng sản mở ra cho toàn cầu tâm hồn một nhận thức mới khiến tâm hồn vui tươi phơi phới

=> Khổ thơ là tiếng reo vui đầy phấn trấn của tác giả khi được giác ngộ lý tưởng cộng sản

* Lý tưởng cộng sản làm thay đổi nhận thức sâu sắc của nhân vật trữ tình

– Đại từ nhân xưng “tôi”: bộc lộ sâu sắc ý thức tư nhân

– Từ “buộc”, “trang trải”: thể hiện sự gắn kết, chia sẻ của thi sĩ với quần chúng lao động

– những từ “Mọi người”, “trăm nơi”, “hồn khổ”: chỉ đối tượng là quần chúng lao khổ trên mọi miền quốc gia

– Hình ảnh ẩn dụ “khối đời”: khiến khái niệm về thế cục vốn trừu tượng trở nên hữu hình

=> Khổ thơ là sự gắn kết của cái tôi tư nhân với cái ta cộng đồng. Khi cái tôi hòa vào cái ta chung sẽ tạo nên một thế cục gắn bó, tạo nên một sức mạnh lớn lao.

* Lý tưởng cộng sản giúp thi sĩ vượt qua những tình cảm ích kỉ, hẹp hòi để có được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ

– Kết cấu khái niệm “tôi…là” được sử dụng xuyên suốt khổ thơ tạo nhịp độ khỏe khoắn, nhấn mạnh ý thức vững vàng của thi sĩ khi gắn kết với cộng đồng

– Điệp từ “của” phối hợp với hệ thống từ xưng hô chỉ quan hệ máu mủ “anh”, “em”, “con”: tình cảm của thi sĩ với quần chúng nhân dân sắp gũi, khăng khít như anh em ruột thịt

– Điệp từ “vạn” phối hợp với những hình ảnh “vạn nhà”, “vạn kiếp phôi pha”, “vạn đầu em nhỏ”: thể hiện những số phận khốn cùng, vất cả, nhỏ bé trong xã hội. Từ đó nói lên tình nhân ái bát ngát, mang tính giai cấp

=> Tố Hữu tự nguyện chọn lựa một chỗ đứng trong lòng dân tộc, coi mình là một thành viên ruột thịt trong gia đình quần chúng lao động => thể hiện ý thức dân tộc, tính nhân đạo sâu sắc

Xem thêm: Phân tích bài thơ thương vợ chọn lọc hay nhất

* Nội dung, nghệ thuật của bài thơ

– trị giá nghệ thuật:

  • Sử dụng những hình ảnh ẩn dụ, so sánh đặc sắc
  • nhịp độ thơ dồn dập, da diết
  • Diễn tả tâm trạng vui sướng, say mê của thi sĩ khi đón nhận lý tưởng cộng sản

– trị giá nội dung:

  • “Từ ấy” là bản tuyên ngôn về nhận thức và ý kiến sáng tác của Tố Hữu
  • Tuyên ngôn về nhận thức: thi sĩ nguyện đi theo ánh sáng của Đảng, gắn bó với quần chúng lao khổ
  • Tuyên ngôn về nghệ thuật: sáng tạo văn học không mộng mơ, viển vông, người nghệ sĩ phải đứng trong hàng ngũ, sắp gũi với quần chúng nhân dân.
  • Từ đây, Tố Hữu chính thức định hình phong cách của một ngòi bút trữ tình chính trị.

Xem Thêm : Top 4+ mẫu Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính hay nhất

c) Kết bài

  • Hồn thơ Tố Hữu chứa chan tình yêu giai cấp và niềm hàm ân sâu sắc cách mệnh.
  • Thơ Tố Hữu rõ ràng là thơ trữ tình – chính luận, hướng người đọc tới chân trời tươi sáng.
  • Tiếng nói trong thơ là tiếng nói của một thi sĩ vô sản chân chính.
  • Giọng thơ tâm thành, sôi nổi, nồng nàn.

Sơ đồ tư duy Cảm nhận bài Từ ấy

Xem thêm: TOP 17+ bài Phân tích bài thơ Từ ấy chọn lọc hay nhất

Cảm nhận Từ ấy – Mẫu 1

“Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng, một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi…”- mỗi khi nghe bài hát ấy chứa lên từ tiếng radio, lòng tôi lại xúc động, bổi hổi nghĩ về thi sĩ Tố Hữu. Một con người suốt thế cục cách mệnh, suốt thế cục thơ dành cho Đảng một tình thương với niềm tin yêu mãnh liệt. Những vần thơ ông viết về Đảng đều thật đẹp, thật đáng trân trọng và giữ gìn. Một trong số đó phải kể tới tác phẩm Từ ấy được tác giả viết vào năm 1938, trong buổi đầu giác ngộ lý tưởng Đảng.

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim”

Câu thơ đầu mở ra thời khắc, hoàn cảnh mà tác giả có những thay đổi trong nhận thức và tâm hồn mình. Trạng ngữ “từ ấy” được đặt đầu câu nhằm nhấn mạnh thời gian có ý nghĩa trọng đại với “tôi”, đó là vào năm 1938, tác giả được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện ấy đã mở ra trước mắt thi sĩ một thế cục mới, một hành trình cách mệnh mới mà trên tuyến đường ấy có lý tưởng của Đảng sáng soi. Ánh sáng cộng sản đã tác động mạnh mẽ tới nhân vật trữ tình khiến lòng “tôi” như “bừng nắng hạ”. Động từ “bừng” phối hợp với danh từ “nắng hạ” đã diễn tả nỗi rộn rực trong tâm hồn người đội viên trẻ. “Nắng hạ” là cái nắng chói chang, rực rỡ và lâu bền nhất , “nắng hạ” là nắng trong tim của một tâm hồn đang rộn rực bùng cháy.

“Mặt trời chân lý chói qua tim”

Hình ảnh mặt trời vốn được sử dụng nhiều trong thi ca. Đó là mặt trời của mẹ- mặt trời bé con trong thơ Trần Đăng Khoa:

“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng”

Hay trong thơ Viễn phương cũng từng viết:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Mặt trời là ẩn dụ cho những gì quý giá nhất, có sức sống lâu bền nhất trong mỗi người. Tố Hữu cũng không nằm ngoài lựa chọn lựa đó, ông đã ví ánh sáng của Đảng như ánh mặt trời chân lý. nếu như Mặt trời của tự nhiên cho vạn vật sức sống, nó trường tồn theo thời gian không thể nào mất đi được thì ánh sáng của Đảng cũng như mặt trời kia, tồn tại lâu bền, trở thành chân lý bất biến, không ai có thể xóa nhòa, phủ nhận. Những lý tưởng đẹp đẽ, đúng đắn của Đảng đã tác động mạnh mẽ tới tâm hồn con người yêu nước “chói qua tim”. Tính từ mạnh “chói” được sử dụng đầy khéo léo như khẳng định ánh sáng mãnh liệt, chói lòa, rực rỡ của Đảng trên tuyến đường cách mệnh.

“Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Lối so sánh ngang bằng “hồn tôi” và “vườn hoa lá” cho thấy những tình cảm dạt dào, sôi động trong tâm não thi nhân. Vườn hoa lá có sắc hương, có thanh âm tự nhiên, vườn hoa lá đang dạt dào sức sống cũng như tâm hồn người lính vậy. Đó là một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, rộn rực, mê say, tin yêu Đảng, là tâm hồn đang khát khao tận hiến cho thế cục khi được lý tưởng Đảng soi đường, dẫn lối. có nhẽ, chính từ đầy, thế cục của tác giả sẽ bước sang một trang mới, đầy hy vọng và tươi sáng hơn.

Trí tuệ giác ngộ lý tưởng cách mệnh, tâm hồn trở nên rộng mở hơn. Bây giờ, nó không còn là ý thức lo cho riêng thế cục mình nữa mà là sự gắn bó, gắn kết với mọi người, cho thế cục chung:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi nhà
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ.
sắp gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Danh từ “tôi” đứng đầu câu phối hợp với động từ “buộc” như một sự chủ động kết sợi dây gắn bó của người đội viên với nhân dân mình. Kể từ nay, mọi hành động, mọi việc làm của “tôi” đều gắn với lợi ích chung của mọi người, vì nhân dân, vì quốc gia. Người cộng sản đã tự nhận thức được trách nhiệm, lẽ sống và sứ mệnh của mình trong thế cục làm cách mệnh. Đó là mong muốn được thấu hiểu nhân dân mình, được chia sẻ với nỗi khổ đau, gian lao của nhân dân mình, để cùng nhân dân mình gắn bó, kết đoàn tạo nên sức mạnh bất diệt đánh tan quân thù, đem lại bình yên cho quốc gia.

Khổ thơ cuối chứa lên như lời khẳng định mang tính chân lý về vị trí và trách nhiệm và sứ mệnh của người đội viên giữa thế cục:

“Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ”

Một tình cảm gắn bó lâu bền và thắm thiết của người đội viên với nhân dân toát lên trong từng vần thơ đẹp. Phép liệt kê cùng điệp từ “là” đã nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết của “tôi” với nhân dân mình. Đó là ý thức sẵn sàng bảo vệ, viện trợ nhân dân, sẻ chia với những khổ cùng của nhân dân. Làm con, làm bạn, làm anh, làm em, làm đội viên, dù ở bất kì cương vị nào đi nữa thì vẫn một lòng gắn bó với nhân dân, cùng nhân dân đương đầu khó khăn, vượt qua những sóng gió, quyết không lùi bước, ngừng chân. Đó là một ý thức thật đẹp, thật đáng quý, đáng yêu, là một ý thức thép giữa thế cục. Cái tôi bây giờ không còn là một bản thể riêng rẽ nữa mà nó đang hòa trong cái ta chung, một cái tôi vì cộng đồng thật đáng ngưỡng mộ.

Bài thư từ ấy kết thúc như một tiếng reo vui của tác giả trong chặng đường đáng nhớ của thế cục. Đồng thời, đằng sau đó là nỗi thiết tha, tin yêu với Đảng, từng lời thơ mang cả tấm lòng ngợi ca ánh sáng của Đảng, của cách mệnh. Ai đó từng nói rằng, một tác phẩm thành công không chỉ bộc lộ được những xúc cảm bên trong tâm hồn tác giả mà còn phải tác động tới tư tưởng, tình cảm, nhận thức trong lòng người đọc. nếu như xét theo những tiêu chí ấy, ta có thể khẳng định Từ ấy chính là một tác phẩm vô cùng thành công, đáng để bao thế hệ học tập và noi theo.

Cảm nhận về bài thư từ ấy – Mẫu 2

Khi nhắc tới thi sĩ trữ tình chính trị hàng đầu của thơ ca Việt Nam, hẳn ai cũng biết tới Tố Hữu. Ông là nhà văn lớn, thi sĩ lớn của dân tộc, là cây bút xuất sắc của cách mệnh Việt Nam. Thơ ông biểu hiện về lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của người cách mệnh. Đặc biệt, thơ ông đi sâu khai thác đời sống chính trị của quốc gia tới tâm tư, tình cảm, thế cục hoạt động cách mệnh của bản thân. Một trong những bài thơ biểu hiện rõ nhất thế cục cách mệnh của ông là bài thơ: Từ ấy.

“Từ ấy” là bài thơ rất hay, đặc biệt bởi đây là bài thơ đánh dấu thế cục hoạt động cách mệnh của thi sĩ. Tháng 7 năm 1938, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Ghi nhận kỉ niệm đáng nhớ ấy với xúc cảm, suy tư sâu sắc Tố Hữu viết nên “Từ ấy”. Bài thơ nằm trong phần “Máu lửa” của tập “Từ ấy”. Bài thơ là lời tâm nguyện của người thanh niên yêu nước giác ngộ lí tưởng cộng sản. Sự vận động của tâm trạng thi sĩ được thể hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng, những giải pháp tu từ và tiếng nói giàu nhạc điệu.

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim”

Đó chính là giây phút ông nhìn thấy lẽ sống lớn, là giây phút “Mặt trời chân lí chói qua tim”. Bắt gặp được lẽ sống, lí tưởng cách mệnh soi sáng, chỉ đường, làm bừng sáng tâm hồn thi sĩ. Với những hình ảnh ẩn dụ : nắng hạ, mặt trời chân lí, chói qua tim. Tố Hữu đã khẳng định một lí tưởng cách mệnh: Đảng là mặt trời chân lí tỏa ra lẽ phải, sự đúng đắn, soi đường đưa cả dân tộc thoát khỏi ách nô lệ. Cũng như mặt trời của tự nhiên, tạo hóa tạo ra sức sống, ánh sáng, tỏa khá ấm cho vạn vật. không những thế, bằng cách sử dụng những động từ mạnh : bừng, chói. Tác giả muốn nhấn mạnh lên một điều rằng : ánh sáng cách mệnh chính là ánh sáng chân lí, đã làm thức tỉnh lòng yêu nước nồng nàn trong lòng mỗi người con dân tộc Việt.

“Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Chính giây phút bắt gặp lí tưởng cách mệnh cũng là giây phút của hương thơm và ánh sáng. Tố Hữu đón nhận lí tưởng như cỏ cây, hoa lá, đón nhận ánh sáng mặt trời. Trong khi băn khoăn kiếm tìm lẽ đời, tác giả đã bắt gặp ánh sáng cách mệnh. Được giác ngộ lí tưởng cao đẹp của Đảng, tác giả thêm tràn đầy sức sống, thêm yêu đời, thêm yêu người. Và nó cũng khiến tâm hồn thi sĩ thêm kiên định và thêm tràn đầy niềm tin với tâm trạng say sưa, náo nức, rộn ràng của một trái tim nhiệt huyết.

không những thế, tác giả còn sử dụng nhuần nhuyễn tiếng nói dân tộc. Bằng cách sử dụng thể thơ thất ngôn, làm âm điệu trở nên trạng trọng. Cách ngắt nhịp trong bài tạo ra tính nhạc : Từ ấy / trong tôi / bừng nắng hạ… làm cho bài thơ thêm hay, thể hiện đúng tâm trạng của thi sĩ:

“Tôi buộc hồn tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
sắp gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Khổ thơ thứ hai thể hiện rõ nhất cái tôi trữ tình. Là cái tôi mang giai cấp thời đại, đại diện cho dân tộc. “Tôi buộc hồn tôi với mọi người” chính là sự hài hòa giữa cái tôi và cái ta, giữa tư nhân và tập thể để từ đó mở lòng mình, đồng cảm với mọi người xung quanh. Từ đó tạo nên tính kết đoàn, sức mạnh tập thể. Đặc biệt là quần chúng nhân dân lao động cùng nắm tay kết đoàn lại thành một khối để vượt qua mọi khó khăn gian khổ.

“Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ…”

Đoạn cuối cùng hiện lên như khẳng định, nhấn mạnh một tình cảm gia đình đầm ấm, thắm thiết. Đó chính là một đại gia đình lớn của quần chúng nhân dân lao động. Mà trong đó tác giả là con, là em, là anh của đại gia đình đó. Tấm lòng của tác giả đã hòa vào tấm lòng đại gia đình dân tộc. Thấu hiểu và chia sẻ tấm lòng đó biểu hiện thật xúc động và tâm thành. Từ đó, ta thấy được tấm lòng căm phẫn của thi sĩ trước thế cục ngang trái. Tác giả xót thương cho những số phận của “vạn kiếp phôi pha”, của những em nhỏ không có áo cơm, “cù bất cù bơ…”. Ông mở lòng đón nhận những kiếp người khổ đau, nhân dân lao động như đón nhận một cách tâm thành những người thân ruột thịt. Câu “Không áo cơm cù bất cù bơ…” để lại ba dấu chấm lửng như tấm lòng của tác giả trải rộng ra, mở lòng mình với bao hồn khổ. Bài thơ rất đặc biệt không chỉ về ý thơ mà còn cả về tứ thơ. Tác giả sử dụng thể thơ truyền thống, sử dụng tiếng nói giàu hình ảnh, nhạc điệu làm vượt bậc tâm trạng của thi sĩ.

Là lời tâm nguyện của chàng thanh niên yêu nước được giác ngộ lí tưởng cách mệnh của Đảng và chưng Hồ. Đồng thời đó cũng là tâm nguyện gắn bó với nhân dân lao khổ. Và bài thơ cũng chính là mốc thời khắc mở đầu cho thế cục hoạt động cách mệnh của Tố Hữu. Bằng lời thơ giàu xúc cảm, suy tư theo lí tưởng cách mệnh. Đó chính là chất lãng mạn của thi ca Việt Nam.

Cảm nhận về bài thư từ ấy – Mẫu 3

Tố Hữu là một thi sĩ cách mệnh, sự nghiệp và thơ ca của ông gắn liền với cách mệnh. Thơ của ông gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mệnh đầy gian khổ và hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi đầy vẻ vang. Bài thư từ ấy đã ghi lại bước ngoặt quan trọng trong thế cục của Tố Hữu với những cảm nhận và suy tư sâu sắc.

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Không áo cơm, cù bất cù bơ”

Bài thơ nằm trong phần máu lửa của tập Từ ấy được viết vào ngày mà Tố Hữu được đứng vào hàng ngũ của Đảng.

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim”.

“Từ ấy” là chỉ cái mốc thời gian đặc biệt trong thế cục cách mệnh và trong thế cục thơ Tố Hữu. Đó là khi Tố hữu 18 tuổi đang hoạt động rất tích cực trong Đoàn Thanh niên Cộng sản Huế. Được giác ngộ lý tưởng cộng sản, Tố Hữu vô cùng vui sướng, ông đã hoạt động cách mệnh một cách say mê và sau một năm ông được kết nạp vào Đảng. Tức là được đứng vào hàng ngũ danh dự của những con người tiên phong.

Xem Thêm : Top 50+ mẫu Kết bài Vội vàng của Xuân Diệu hay nhất

Cụm từ “bừng nắng hạ” là biểu tượng cho xúc cảm của bài thơ. “Bừng nắng hạ” là bừng lên vui sướng hoan hỉ, bừng lên niềm hạnh phúc, bừng lên một chân lý tỏa sáng cho thế cục của mình. Hình ảnh “mặt trời chân lí chói qua tim” là hình ảnh ẩn dụ biểu tượng cho lí tưởng cách mệnh. Những từ ngữ được sử dụng chuẩn xác, giàu sức gợi ở đây là từ “bừng” và từ “chói”. Từ “bừng” chỉ ánh sáng phát ra đột ngột, từ “chói” chỉ ánh sáng xuyên mạnh. Vậy hình ảnh “bừng nắng hạ”, “chói qua tim” đã diễn tả được niềm vui đột ngột của thi sĩ. Tố Hữu đã khẳng định lí tưởng cộng sản như một nguồn ánh sáng mới, làm bừng sáng lên tâm hồn. Tác giả gọi chân lí cách mệnh là mặt trời chân lí bởi Đảng là một nguồn ánh sáng kì diệu, tỏa ra từ những tư tưởng đúng đắn, hợp với lẽ phải. Nó báo hiệu những điều tốt lành cho cuộc sống. Cách gọi ấy thể hiện thái độ thành kính của thi sĩ đối với cách mệnh. Từ “chói qua tim” là tác giả nhấn mạnh ánh sáng của lí tưởng là một nguồn ánh sáng mạnh, nó xua tan đi màn sương mù của ý thức tiểu tư sản và mở ra trong tâm hồn thi sĩ một chân trời mới của nhận thức, của tư tưởng.

Hai câu thơ sau tác giả viết bằng văn pháp trữ tình lãng mạn cùng với những hình ảnh so sánh rất sinh động, giàu hình tượng để diễn tả niềm vui sướng vô hạn của buổi đầu tiếp xúc với lí tưởng cộng sản:

“Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Hình ảnh “vườn hoa lá” và “rộn tiếng chim” là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho một toàn cầu tươi sáng, rộn ràng, tràn đầy sức sống. thi sĩ so sánh hồn tôi như vườn hoa lá, một cách so sánh lấy hình ảnh cụ thể để chỉ một khái niệm trừu tượng. Để từ đó độc giả chúng ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của thi sĩ khi tới với cách mệnh. Đối với Tố Hữu, lí tưởng cách mệnh không chỉ khơi dậy một sức sống mới mà còn mang lại một cảm hứng sáng tạo mới cho hồn thơ. Đó là thi sĩ say mê ngợi ca nhân dân, ngợi ca quốc gia, say mê hoạt động cống hiến cho cách mệnh. tương tự, khổ thơ mở đầu bài thơ diễn tả niềm vui, niềm say mê và hạnh phúc tràn ngập trong tâm hồn thi sĩ từ khi được giác ngộ lí tưởng cách mệnh, được kết nạp vào Đảng Cộng Sản. Những câu thơ trên được viết bằng xúc cảm dạt dào diễn tả tâm trạng, tâm hồn bằng những hình ảnh cụ thể và sinh động đã tạo được một ấ tượng độc đáo, mới lạ so với thơ ca cách mệnh đương thời và trước đó. Xong cái hấp dẫn lớn nhất trong thơ Tố Hữu là con người tâm thành, tâm hồn trong trẻo, nồng nhiệt đã tìm được một cách diễn đạt rất thích hợp.

Khi giác ngộ lí tưởng Tố hữu đã khẳng định quan niệm mới về lẽ sống. Đó là sự gắn bó hài hòa giữa cái tôi tư nhân và cái ta chung của mọi người:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với muôn nơi”
Để hồn tôi với bao hồn khổ
sắp gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Động từ “buộc” thể hiện một ý thức tự nguyện và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của cái tôi tư nhân để sống chan hòa với mọi người. “Buộc” còn tức là tự mình phải có trách nhiệm gắn bó với cộng đồng. Mọi người ở đây là những người lao khổ, những con người cùng chung giai cấp vô sản. Từ “trang trải” khiến ta liên tưởng tới tâm hồn của thi sĩ đang trải rộng với thế cục: tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể. “sắp gũi nhau thêm mạnh khối đời” là tác giả nói tới ý thức kết đoàn. “Khối đời” là hình ảnh ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung một tình cảnh, cùng chung một lí tưởng, kết đoàn với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng phấn đấu vì một mục đích chung: đấu tranh giành lại quyền sống và quyền độc lập dân tộc. tương tự, toàn bộ khổ thơ trên bằng lối sử dụng những từ ngữ chuẩn xác, giàu ngụ ý, thi sĩ đã gửi gắm một cách sâu sắc về tư tưởng, tình cảm của mình. Đó là tình yêu thương con người của Tố Hữu gắn với tình cảm hữu ái giai cấp. Nó thể hiện niềm tin của tác giả vào sức mạnh kết đoàn, câu thơ trên cũng là một lời khẳng định: khi cái tôi chan hòa với cái ta, khi tư nhân hòa vào tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh nhân lên gấp bội. Những câu thơ cũng là biểu hiện nhận thức mới về lẽ sống chan hòa tư nhân và tập thể, giữa cái tôi và cái ta. Trong lẽ sống ấy con người tìm thấy niềm vui và sức mạnh. Sự thay đổi nhận thức ấy, nó bắt nguồn sâu xa từ sự tự giác ngộ lí tưởng của thi sĩ Tố Hữu.

“Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ”

Ở khổ thơ này, thi sĩ tiếp tục ghi nhận những chuyển biến trong nhận thức và hành động thể hiện trong quan hệ với những tầng lớp khác nhau của quần chúng lao động. Ở đây, tác giả đã khẳng định tình cảm gắn bó với “vạn nhà” (Tôi đã là con của vạn nhà: “vạn nhà” là một tập thể lớn lao, rộng rãi, nhưng rộng hơn là toàn thể quần chúng nhân dân lao động, “vạn kiếp phôi pha” là những người sống nghèo khổ, sa sút, vất vả, khốn cùng, “vạn đầu em nhỏ” là những em bé lang thang vất vưởng nay đây mai đó). Tình cảm của tác gải thể hiện qua cách xưng hô: con, anh và em, cho ta thấy tình hữu ái giai cấp, tình yêu thương ruột thịt. Điệp từ “đã là” là một điểm nhấn, nó giúp tác giả thể hiện sâu sắc tình cảm gắn bó của mình với quần chúng nhân dân lao khổ. Tác giả đã xác định mình là một thành viên trong đại gia đình quần chúng lao khổ. Tình cảm ấy trở nên cao quý hơn khi ta hiểu được Tố Hữu vốn là một trí thức tiểu tư sản, có lối sống đề cao cái tôi tư nhân, ích kỉ, hẹp hòi. thi sĩ đã vượt qua giai cấp của mình để tới với giai cấp vô sản với tình cảm tâm thành và điều này chứng tỏ sức mạnh cảm hóa mạnh mẽ lí tưởng cách mệnh đối với những người trí thức tiểu tư sản.

Với cách sử dụng linh hoạt những văn pháp tự sự, trữ tình và lãng mạn, sử dụng linh hoạt và hiệu quả những giải pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, tiếng nói rồi sử dụng từ ngữ giàu tình cảm, giàu hình ảnh. Bài thơ đã thể hiện được một cách sâu sắc, tinh tế sự thay đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một thanh niên ưu tú khi được giác ngộ lí tưởng cách mệnh và được vinh dự đứng trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng. Bài thơ cũng thể hiện những nhận thức mới về lẽ sống, đó là lẽ sống gắn bó hài hòa giữa cái tôi riêng với cái ta chung của mọi người. Cũng như sự chuyển biến sâu sắc của thi sĩ, bài thơ cũng có ý nghĩa mở đầu cho tuyến đường cách mệnh, tuyến đường thơ ca của Tố Hữu. Nó là tuyên ngôn về lẽ sống của người đội viên cách mệnh và cũng là tuyên ngôn của thi sĩ đội viên. Bài thơ cũng tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, có sự phối hợp hài hòa giữa trữ tình và chính trị, sử dụng nhuần nhuyễn những thủ pháp nghệ thuật thân thuộc của thơ ca truyền thống nhưng giàu hình ảnh và giàu nhịp độ lời thơ giản dị khiến nó dễ đi vào lòng người đọc.

Cảm nhận về bài thư từ ấy – Mẫu 4

Tố Hữu – một tiếng thơ trữ tình chính trị xuất sắc nhất của dòng Văn học cách mệnh kháng chiến Việt Nam. Người đã thổi vào thơ ca cách mệnh một luồng sinh khí nồng nàn – rộn rực hăm hở tâm huyết của người lính trẻ, với chất giọng đằm thắm tâm thành ngọt ngào của người dân xứ Huế mộng mơ, thơ Tố Hữu nhường nhịn như đã thấm đẫm chân lí của thời đại, chân lí giác ngộ cách mệnh, khi bắt gặp lí tưởng Đảng:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Từ ấy là tập thơ trước hết của Tố Hữu (1937 – 1947). Đây là chặng đầu mười năm thơ Tố Hữu cũng là muôn năm hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách tới trưởng thành của người thanh niên cách mệnh trong một giai đoạn lịch sử sôi động đã diễn ra nhiều biến cố to lớn làm rung rinh và thay đổi sâu sắc của xã hội Việt Nam.

Có thể nói với Từ ấy đã đánh dấu sự trưởng thành của hồn thơ Tố Hữu, đây là sự khẳng định lí tưởng của một đội viên trẻ khi đã có Đảng dẫn lối soi đường.

Bài thơ này Tố Hữu đã giãi tỏ xúc cảm mãnh liệt đột ngột, xúc cảm thực của một trái tim đang thèm khát được giác ngộ, để đi theo chân lí của cách mệnh, để tìm ra một hướng đi cho tương lai. Mở đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng từ Từ ấy rất độc đáo – không hiểu là từ khi nào, thói quen không được xác định rõ ràng, cũng không phải là dạo ấy, dạo đó, hay là từ ngày đó… mà người chỉ sử dụng một cụm từ từ ấy, để diễn tả tâm trạng của mình khi bắt gặp lí tưởng cho thế cục. Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ – là câu thơ như chợt tỉnh giấc sau một đêm dài mộng mị, của từ bừng câu thơ như trở nên có hồn hơn, chở đầy tâm trạng khi xao xuyến, khi thì rộn rực băn khoăn hớn hở. Tố Hữu đã rất tinh tế khi sử dụng câu thơ này để diễn tả một cái tôi bản ngã của một chàng thanh niên 19 tuổi đang băn khoăn đứng giữa thế cục: Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước – chọn lựa một dòng hay để nước trôi đi. Thì cùng lúc đó người đã giác ngộ lí tưởng cách mệnh. Ánh sáng lí tưởng đã chiếu rọi vào tâm hồn trẻ làm bùng nổ một toàn cầu đầy hương sắc, tràn trề sức sống và niềm vui. Sự gặp gỡ lí tưởng đã dẫn tới sự thay đổi cơ bản mối quan hệ con người với toàn bộ toàn cầu, đem lại sự gắn bó ruột thịt với muôn người lao khổ để tạo thành sức mạnh to lớn của cách mệnh. Sự gặp gỡ lí tưởng cũng đã tạo nên một cái tôi trữ tình kiểu mới trong thơ: Cái tôi tự ý thức sâu sắc về mình đồng thời là cái tôi gắn bó với muôn người, ở giữa mọi người. Cái tôi ấy đã hòa chung vào với cộng đồng khi đã thấy:

Mặt trời chân lí chói qua tim.

Mặt trời – là một giải pháp tu từ ẩn dụ, để chiếu ánh sáng lí tưởng cách mệnh, mặt trời ấy có đủ sức mạnh và ánh sáng chân lí để soi rọi bao con người, bao đội viên trẻ, bao thanh niên trí thức chưa được giác ngộ. Chỉ có mặt trời ấy mới đủ chân lí vĩnh cửu để soi rọi bao nẻo đường, chiếu sáng mọi ngóc ngỏng trong sâu thẳm của trái tim.

Niềm vui tràn trề của một tâm hồn hòa vào niềm hoan hỉ của cả một thế hệ thanh niên cách mệnh cũng đã tạo nên một xúc cảm ngây ngất say mê, trong bài Hy vọng, Tố Hữu đã viết :

Ôi vui quá! Rộn ràng trên vạn nẻo
Bốn phương trời vào theo dấu muôn chân
Cũng như tôi, tất cả tuổi đương xuân
Chen bước nhẹ trong túi đầy ánh sáng.

Tố Hữu đã bộc lộ một xúc cảm, một niềm tin vào tương lai: Người thanh niên cách mệnh tự cảm thấy:

Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Tâm hồn của cái tôi trữ tình lúc này đã được mở rộng, để đón nhận những chân lí tuyệt vời mà Đảng đã đem lại, những hương vị tuyệt vời của cuộc sống đang nô nức reo vui vào một niềm vui mới, niềm vui khi đã có Đảng dẫn đường. Tố Hữu đã sử dụng giải pháp so sánh vì hồn tôi lúc này như là một vườn hoa lá – lại có cả hương thơm và rộn ràng tiếng chim. Hương vị ngọt ngào của thế cục thực đã phai màu trong suy nghĩ của người thanh niên cách mệnh, niềm tin của người thanh niên cách mệnh mặc dầu mang màu sắc lí tưởng hóa, nhưng lại rất tâm thành và trong trẻo là tâm huyết mãnh liệt của người đội viên trẻ.

Từ ấy đã thể hiện được bầu nhiệt huyết mãnh liệt của người đội viên trẻ, của một cái tôi trữ tình buổi đầu trĩu nặng những ưu tư, ưu phiền của thế cục. Song đã bắt gặp được lí tưởng cách mệnh. Bài thơ là tiếng reo vui của con người đối với thế cục, của niềm tin vào một tương lai sáng huy hoàng, vào chân lí của cách mệnh.

Cảm nhận bài thư từ ấy hay nhất – Mẫu 5

Chế Lan Viên từng nói “Thơ anh là lối thơ lấy cái đường đi toàn đời, lấy cái khá toàn tập, lấy cái tứ toàn bài là chính… anh là con chim vụ ở đường bay hơn là bộ lông, bộ cánh, tuy vẫn là lông cánh đẹp”. Không ai khác, Chế Lan Viên đang nói tới Tố Hữu – một thi sĩ của lí tưởng cộng sản, một nhà cách mệnh yêu nước. Thơ ông luôn gắn liền với cách mệnh, tiêu biểu là bài thư từ ấy trích tập thơ cùng tên được ông sáng tác năm 18 tuổi, năm ông ra nhập Đảng với niềm vui khôn xiết:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim

“Từ ấy” là tên bài thơ, là tên tập thơ cũng là thời khắc trong đời Tố Hữu. Những năm trước cách mệnh là “những ngày bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước, chọn lựa một dòng để nước trôi” nhưng vào năm 1938, gặp Đảng là lúc tìm được ánh sáng. “Từ ấy” không còn chỉ là thời khắc vô danh trôi chìm trong quên nhớ đời người mà đã trở thành thời khắc thiêng liêng không thể quên lãng phai nhạt. Vào thời khắc ấy, trong hồn thi sĩ “bừng nắng hạ”. Hình ảnh nắng hạ thật chói chang khác cái nắng nhợt nhạt của mùa xuân, cái nắng hanh hao của mùa thu. Những tia nắng hạ làm lá thêm xanh, hoa thêm ngát, trái thêm ngọt, đất trời thêm cao. Không những vậy, “nắng hạ” trong bài thơ cho ta nguồn sáng rất ấm, rất tươi của ý thức, của vong hồn. Nó làm “bừng” sáng tâm hồn, bừng lên niềm vui, bừng dậy cả nguồn sống, bừng thức cả một miền kí ức thật đẹp đẽ. Ánh sáng ấy chỉ có thể là của mặt trời, đó là sự sống, khá ấm bát ngát bất biến của vũ trụ. Đó là ánh sáng của “mặt trời chân lí” là ánh sáng của Đảng.

Niềm vui ấy không hề ngừng lại, mà ngày càng tăng lên với những hình ảnh “vườn hoa lá”, “tiếng chim ca”,… mở ra cho người đọc đó là khu vườn xuân tươi mới tràn ngập sắc xanh của cây, hương thơm của hoa và những tiếng chim hót ríu rít tràn đầy sức sống. Vẻ đẹp tâm hồn, niềm vui của tác giả đã thoát khỏi ước lệ tượng trưng, nó tươi sáng trẻ trung có chút xốc nổi say mê của chàng trai xanh tuổi xanh lòng. Câu thơ với kiểu khái niệm rất mới mẻ viết bằng xúc cảm dạt dào mãnh liệt với những hình ảnh rất cụ thể khiến cho ta cảm nhận được niềm vui và say mê khi tác giả được kết nạp đảng.

nếu như khổ thơ thứ nhất cho ta cảm nhận được niềm vui, sự say mê của tác giả thì tới khổ hai chính là những nhận thức mới về lí lẽ sống:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với muôn nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
sắp gũi nhau thêm mạnh khối đời

Khổ thơ với điệp ngữ phối hợp với nhịp thơ nhanh, trôi chảy, khá thở liền mạch, giọng thơ sôi nổi thiết tha tràn đầy nhiệt tình nhiệt huyết.

Việc sử dụng động từ “buộc” thể hiện một lòng tự nguyện chan hòa lòng mình cùng mọi người, tác giả nhường nhịn như muốn mình trải lòng cùng quần chúng nhân dân lao động của bao kiếp người khổ đau. Đó là những trẻ em bán dạo, người ở, đầy tờ, những người nông dân khổ cực sớm hôm,… Tố Hữu với mong muốn đồng cảm, xót thương kết đoàn với những người dân ngoài kia mà mở hồn “trang trải” với “khối đời”. có nhẽ đó là một lẽ sống lớn, tình cảm lớn với mọi người.

Tiếp tục mạch xúc cảm là những biến chuyển trong tâm hồn thi sĩ và mong muốn tột cùng hòa mình với đời:

Ta đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ

Khổ thơ cuối là sự xuất hiện của tập thể với những cụm từ chỉ số lượng lớn “vạn nhà”, “vạn kiếp”, “vạn đầu” và đại từ “ta”, tác giả một lần nữa khẳng định tình cảm gắn bó của mình với mọi người, những người sống nghèo khổ, tuổi cao nhưng còn gánh nhiều nỗi khốn cùng, những trẻ em thời ấy không có cơm ăn áo mặc, lang thang không nhà và tất cả mọi người trên thế gian này. Đây là bước chuyển từ cái tôi sang cái ta rõ rệt nhất, tình cảm thay đổi cũng bắt nguồn từ nhận thức về lẽ sống, nó ập tới trong lòng tác giả tỉ một mối duyên, có thể nói là mối duyên giữa thi sĩ và ánh sáng chân lí của đảng. Đặt tác phẩm vào thời đại và bối cảnh bấy giờ năm 1938, thời khắc mà những nhà trí thức tiểu tư sản đang đề cao cái tôi tư nhân thì Tố Hữu đã có thể buông bỏ cái tôi để hòa mình cùng cái ta của thế gian. Điều này cho thấy sức mạnh to lớn của lí tưởng cách mệnh đã cảm hóa con người, soi sáng đường đi cho họ, hướng họ về phía mặt trời.

Với thiên hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn, và chất trữ tình chính trị sâu sắc, thơ Tố Hữu đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào cho những thế hệ thanh niên yêu nước. Và bài thư từ ấy của ông truyền cho ta ngọn lửa, nhiệt huyết và khát vọng tuổi xanh lớn lao.

Nguồn: https://dacsanlucngan.vn
Danh mục: Lớp 11

Related Articles

Back to top button